Chính sách thuế mới sau ngày 24/7: Vị thế Dệt May Việt Nam trong cuộc tái cấu trúc nguồn cung

Thứ Ba, 25/08/2026, 14:02

Nghe tóm tắt nội dung bài viết:

 

Từ ngày 24/7/2026, Hoa Kỳ chấm dứt mức thuế 10% theo Section 122 và chuyển sang áp dụng thuế Section 301 liên quan đến việc các đối tác chưa thiết lập hoặc thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Việt Nam chịu mức thuế bổ sung 12,5% cộng trực tiếp vào thuế tối huệ quốc (MFN), cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ và một số đối thủ, đồng thời bất lợi hơn đáng kể so với nhóm được áp dụng cơ chế “net of MFN”.

Việt Nam bước vào nửa cuối năm 2026 với một nền tảng tương đối thuận lợi. Trong 6 tháng đầu năm, KNXK hàng sợi dệt tăng gần 36% so với cùng kỳ trong khi hàng may mặc tăng 1% so với cùng kỳ và duy trì được vị thế số 1 về thị phần tại Mỹ. Nhưng khả năng duy trì lợi thế trong năm 2027 phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có chuyển được năng lực sản xuất thành giá trị chiến lược đối với khách hàng hay không trong bối cảnh chính sách thuế mới được cho là sẽ thúc đẩy quá trình sàng lọc lại nguồn cung: các thương hiệu vừa phân tán rủi ro quốc gia, vừa thu hẹp số nhà cung cấp để tập trung vào những đối tác linh hoạt, tuân thủ tốt và đủ sức cùng khách hàng quản trị chi phí.

7243c34929b1bf2bbbe720b0822e262c0fccae3927b7cf TBKViK

Thuế quan trước hết tạo ra chuyển dịch nguồn cung

Cấu trúc Section 301 mới hình thành ba tầng thuế rõ rệt. Nhóm 17 nền kinh tế được áp mức bổ sung 10% trên MFN. Đối với hàng từ EU và Đài Loan, nếu MFN dưới 10% thì thuế Section 301 được áp ở mức phần chênh lệch để tổng MFN và Section 301 bằng 10%, còn nếu MFN từ 10% trở lên thì thuế Section 301 bằng 0. Tương tự, ngưỡng áp dụng đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ là 12,5%. Các nền kinh tế còn lại, trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ, chịu thêm 12,5% trên MFN.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã quyết định thiết lập hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với một số sản phẩm dệt may của Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia, dựa trên lượng bông và nguyên liệu dệt may Hoa Kỳ mà các nước này nhập khẩu. USTR cho biết cơ chế chưa khả thi ngay khi thuế mới có hiệu lực, nhưng dự kiến có thể được thiết lập từ ngày 1/9/2026. Cho đến khi USTR chính thức thiết lập TRQ và công bố thời điểm áp dụng, hàng hóa liên quan vẫn chịu thuế Section 301 ở mức 10%.

Kinh nghiệm từ các đợt Section 301 trước cho thấy thuế có thể làm thay đổi mạnh cơ cấu nhập khẩu nhưng không bảo đảm sản xuất quay về Hoa Kỳ với quy mô tương ứng. Báo cáo Tác động kinh tế của thuế quan theo Section 232 và 301 của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) ước tính thuế Section 301 áp lên hàng Trung Quốc giai đoạn 2018-2021 được truyền gần như đầy đủ vào giá nhà nhập khẩu Hoa Kỳ phải trả. Bình quân toàn bộ hàng hóa, cứ thuế tăng 1% thì giá trị và lượng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm khoảng 2% sau khi doanh nghiệp có thời gian điều chỉnh nguồn cung thay thế.

Riêng ngành may mặc, đến năm 2021, thuế được ước tính làm nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 39,1%, so với kịch bản không có thuế; nhập khẩu từ các nguồn khác tăng 25,2%, trong khi sản lượng tại Hoa Kỳ chỉ tăng 6,3%. Giá hàng nhập từ Trung Quốc tăng 14,5%, giá hàng sản xuất tại Hoa Kỳ tăng 3,1% và giá bình quân trên thị trường tăng 4,3%.

Picture1 2
Section 301 chủ yếu tái phân bổ nguồn cung hơn là đưa sản xuất trở lại Mỹ

Kết quả khảo sát do USFIA thực hiện công bố tháng 7/2026 cũng cho kết quả tương tự: chỉ 10,5% doanh nghiệp tăng mua hàng “Made in USA”, trong khi 57,9% tiếp tục đa dạng hóa quốc gia cung ứng và 63,2% đàm phán lại hợp đồng với nhà cung cấp.

Vị thế Việt Nam: nền tảng tốt nhưng dư địa tăng không còn tự động

Khảo sát USFIA được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6/2026 với lãnh đạo 30 doanh nghiệp thời trang Hoa Kỳ, trong đó khoảng 80% có trên 1.000 lao động. Vì khảo sát hoàn thành trước khi mức Section 301 cuối cùng được công bố ngày 24/7, các kết quả không phản ánh trực tiếp phản ứng của doanh nghiệp sau chính sách mới; nhưng đây là một “đường cơ sở” có giá trị để đánh giá vị thế các nguồn cung ngay trước khi bước vào chế độ thuế mới. Việt Nam nằm trong nhóm nguồn cung được sử dụng rộng nhất, 78,9% số doanh nghiệp trả lời cho biết đang mua hàng từ Việt Nam, ngang Campuchia, Bangladesh và Indonesia; cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ, cùng ở mức 73,7%. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam dẫn đầu nguồn cung nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ với khoảng 22,2% thị phần về giá trị, khoảng 58% doanh nghiệp khảo sát vẫn mua trên 10% tổng lượng hoặc giá trị hàng may mặc từ Việt Nam.

Bảng: Top 10 nguồn cung hàng may mặc năm 2026 dựa trên kết quả khảo sát của USFIA

Quốc gia Xếp hạng
2026
Xếp hạng
2025
Tỷ lệ DN sử dụng nguồn cung 2026 Tỷ lệ DN sử dụng nguồn cung 2025
Việt Nam 1 1 78,9% 100,0%
Campuchia 1 3 78,9% 94,1%
Bangladesh 1 4 78,9% 88,2%
Indonesia 1 5 78,9% 76,5%
Trung Quốc 5 1 73,7% 100,0%
Ấn Độ 5 5 73,7% 76,5%
Sri Lanka 7 7 57,9% 52,9%
Guatemala 7 9 57,9% 47,1%
Ai Cập 7 12 57,9% 41,2%
Pakistan 10 9 52,6% 47,1%
Jordan 10 12 52,6% 41,2%

Đáng chú ý hơn là chất lượng vị thế cạnh tranh. Trên thang điểm 1-5, Việt Nam đạt 3,9 điểm về chi phí, 3,6 điểm về tính linh hoạt và khả năng thích ứng, 3,5 điểm về tích hợp theo chiều dọc và 3,1 điểm về khả năng đáp ứng đơn hàng tối thiểu (MOQ). Trong nhóm châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về tính linh hoạt và có hồ sơ cạnh tranh tương đối cân bằng. Bangladesh nổi bật hơn về chi phí nhưng yếu hơn về MOQ; cả Bangladesh và Campuchia đều có điểm tích hợp dọc thấp hơn Việt Nam.

Picture2 1
Vị thế cạnh tranh của Việt Nam so với một số nguồn cung châu Á

Nền tảng này giúp Việt Nam chống chịu tốt hơn trước chênh lệch thuế 2,5 điểm phần trăm. Với đơn hàng yêu cầu kỹ thuật, thời gian giao nhanh, quy mô biến động hoặc cần phối hợp phát triển sản phẩm, chi phí và rủi ro chuyển nhà cung cấp có thể lớn hơn lợi ích thuần túy từ chênh lệch thuế. Khi đó, khách hàng không ra quyết định chỉ bằng giá FOB.

Tuy nhiên, tín hiệu về tương lai thận trọng hơn. Trong 2 năm tới, khoảng 33% doanh nghiệp dự kiến tăng mua từ Việt Nam, thấp hơn Indonesia (53,3%), Bangladesh (46,7%) và Guatemala (40%); khoảng 7% dự kiến giảm. Việt Nam được chấm 2,8 điểm về tốc độ ra thị trường và 2,0 điểm về rủi ro gặp thêm hàng rào nhập khẩu của Hoa Kỳ. Bảng điểm cho thấy Ấn Độ ở mức 1,9 và Trung Quốc 1,6. Do đó có thể hiểu, cho tới thời điểm hiện nay Việt Nam nằm trong ba nguồn cung được cho là có rủi ro gặp thêm các hàng rào nhập khẩu đáng kể của Hoa Kỳ trong số các địa điểm được USFIA đánh giá. Điều này tạo ra một bức tranh hai mặt: Việt Nam hiện có vị thế mạnh, nhưng không phải là nguồn cung có dư địa mở rộng lớn nhất.

Picture3 1
Triển vọng điều chỉnh nguồn cung hàng may mặc trong hai năm tới

Năm 2027: cạnh tranh chuyển từ “quốc gia nào” sang “nhà cung cấp nào”

Chiến lược tìm nguồn cung đang chuyển từ mở rộng nhanh sang tối ưu hóa mạng lưới. Năm 2025, 58,8% doanh nghiệp dự kiến mua từ nhiều quốc gia hơn, đến năm 2026 tỷ lệ này chỉ còn 21,1%. Tỷ lệ dự kiến tăng số nhà cung cấp giảm từ 41,2% xuống 26,3%, trong khi tỷ lệ muốn giảm số nhà cung cấp tăng từ 17,6% lên 47,4%.

Picture4 1
Trọng tâm chuyển từ mở rộng nguồn cung sang tối ưu hóa mạng lưới

Các doanh nghiệp có quan hệ ổn định, quy mô đủ lớn, năng lực phát triển sản phẩm, hệ thống dữ liệu và tuân thủ tốt có cơ hội nhận thêm đơn hàng khi khách hàng tập trung vào ít đối tác chiến lược hơn. Ngược lại, nhà máy chỉ cung cấp công suất gia công, ít khác biệt và khó phối hợp quản trị tồn kho, phát triển mẫu hay truy xuất chuỗi cung ứng có thể bị loại khỏi danh sách, ngay cả khi Việt Nam vẫn duy trì thị phần cao.

Cạnh tranh không chỉ đến từ các nước có thuế thấp hơn. Đáng chú ý, ngay trong môi trường thuế quan và bất định chính sách trước ngày 24/7, Trung Quốc vẫn được doanh nghiệp khảo sát chấm 4,3 điểm về chi phí – ngang Bangladesh và cao nhất nhóm nghiên cứu, đồng thời tiếp tục dẫn đầu về tính linh hoạt, đơn hàng tối thiểu và tích hợp theo chiều dọc. Tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến giảm mua từ Trung Quốc trong 2 năm tới đã hạ từ trên 80% xuống 40%, còn 20% dự kiến tăng mua. Điều này cho thấy quá trình giảm phụ thuộc vào Trung Quốc có thể đang bước sang giai đoạn chậm hơn, bởi phần năng lực còn lại khó thay thế hơn về nguyên liệu, tốc độ và đơn hàng phức tạp.

Nearshoring tại Tây bán cầu đang tăng, thể hiện qua tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nguồn từ CAFTA-DR tăng từ 64% lên 76%. Tuy nhiên, USFIA cho thấy nguồn cung khu vực này vẫn tập trung vào một số nhóm hàng như T-shirt, activewear và bottoms, với nhiều hạn chế về quy mô, chủng loại và năng lực nguyên liệu khiến khu vực chưa thể thay thế rộng rãi các trung tâm cung ứng châu Á.

Thuế đang truyền vào giá – nhưng ngày 24/7 không phải một cú sốc hoàn toàn mới

Tác động của thuế lên giá tiêu dùng không diễn ra tức thời. Nghiên cứu “Phát hiện tác động của thuế quan lên giá cả tiêu dùng trong thời gian thực” của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố tháng 4/2026, dựa trên các đợt tăng thuế năm 2025, ước tính mức truyền dẫn tích lũy đạt khoảng 55% sau 3 tháng, 75% sau 4 tháng và 90% sau 5 tháng; đến khoảng tháng thứ 7, điểm ước lượng phù hợp với mức truyền dẫn đầy đủ theo tỷ lệ 1:1. Các kiểm định độ nhạy trong cùng nghiên cứu cho thấy quá trình truyền dẫn có thể cần khoảng 5–9 tháng để ổn định quanh mức 100%. “1:1” ở đây không có nghĩa thuế suất tăng 10% thì giá bán lẻ tăng 10%. Fed diễn giải rằng nếu thuế làm chi phí mua hàng của nhà bán lẻ tăng thêm 1 USD thì, khi quá trình truyền dẫn hoàn tất, giá bán tăng khoảng 1 USD.

Kết quả này không trực tiếp đo lường toàn bộ tác động của Section 122 và 301 năm 2026, nhưng cung cấp một cơ sở tham chiếu đáng chú ý. Mức phụ thu 10% theo Section 122 có hiệu lực từ ngày 24/2 và tồn tại đúng 5 tháng trước khi hết hiệu lực ngày 24/7. Nếu quá trình truyền dẫn năm 2026 diễn ra tương tự, một phần lớn tác động của mặt bằng phụ thu 10% có thể đã được hấp thụ vào giá trước ngày 24/7. Vì Section 301 sau đó duy trì mức 10% đối với nhiều nguồn cung và nâng lên 12,5% đối với Việt Nam, thị trường không bắt đầu lại một chu kỳ điều chỉnh hoàn toàn mới: với hàng Việt Nam thuộc phạm vi áp dụng của cả 2 cơ chế, cú sốc thuế biên mới về cơ bản là 2,5 điểm phần trăm. Do đó, những tháng cuối năm có thể chứng kiến phần còn lại của mức thuế 10% tiếp tục truyền vào giá, đồng thời bắt đầu hấp thụ phần tăng thêm đối với hàng Việt Nam.

Nhưng nhà cung cấp không đứng ngoài gánh nặng. USFIA cho biết 84,2% doanh nghiệp thời trang bị giảm lợi nhuận, 73,7% chịu tăng chi phí tìm nguồn cung, 57,9% tăng giá bán và 52,6% giảm doanh số tại Hoa Kỳ. Khi người tiêu dùng phản ứng với giá cao, thương hiệu sẽ quay lại đàm phán đơn giá, điều chỉnh sản lượng, kéo dài thời hạn thanh toán hoặc chuyển đơn hàng. Doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì vậy không nên chấp nhận một tỷ lệ giảm giá chung chỉ vì khách hàng viện dẫn thuế, nhưng cũng không thể giả định người mua sẽ tự hấp thụ toàn bộ chi phí. Phương án phải tính theo từng mã hàng: MFN, Section 301, độ nhạy giá, khả năng thay thế nhà máy, chi phí chuyển nguồn, năng suất và biên lợi nhuận tối thiểu.

Giữ vị thế trong những năm tới: từ lợi thế sản xuất sang giá trị chiến lược

Trước hết, tuân thủ và truy xuất phải được nâng từ chức năng kiểm soát thành năng lực thương mại. Trong khảo sát USFIA, 68,8% doanh nghiệp dự kiến áp dụng công nghệ mới để hiểu rõ chuỗi cung ứng, 62,5% tiếp tục truy vết nguồn gốc xơ và sợi, 56,3% yêu cầu thêm dữ liệu tuân thủ xã hội, và 31,3% giảm số nhà cung cấp hoặc làm chậm phê duyệt nhà cung cấp mới. Hồ sơ truy xuất đầy đủ có thể trực tiếp quyết định khả năng được giữ lại trong quá trình hợp nhất nhà cung cấp. Kiểm soát nguồn bông, sợi, vải, lao động và chuyển đổi xuất xứ phải trở thành dữ liệu sẵn sàng cung cấp.

Cần biến lợi thế linh hoạt thành tốc độ và giá trị gia tăng. Điểm linh hoạt 3,6 là lợi thế rõ ràng, nhưng điểm tốc độ 2,8 cho thấy thời gian phát triển mẫu, phê duyệt nguyên liệu, tổ chức sản xuất và logistics còn dư địa cải thiện. Đầu tư chiều sâu, tự động hóa, số hóa lập kế hoạch, giảm thời gian chuyển đổi chuyền và nâng năng lực thiết kế – phát triển sản phẩm có ý nghĩa trực tiếp hơn mở rộng công suất thuần túy. Cơ cấu sản phẩm cần dịch chuyển khỏi nhóm hàng cơ bản dễ thay thế sang đơn hàng kỹ thuật cao, quy mô linh hoạt và giao nhanh.

Cơ hội thượng nguồn tại Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Jordan do chênh lệch thuế cần được tiếp cận có điều kiện. Lợi thế thuế của hàng thành phẩm có thể tạo thêm nhu cầu nguyên liệu, nhưng chỉ khi đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, logistics và an toàn thanh toán. Cần khảo sát khách hàng, thử nghiệm đơn hàng và lượng hóa hiệu quả trước khi mở rộng, tuyệt đối không dựa vào chuyển tải để né xuất xứ.

Cuối cùng, hiệu quả phải được đo bằng kết quả tài chính và chất lượng tăng trưởng. Thuế, tiền lương, năng lượng và logistics không thể giải thích toàn bộ suy giảm lợi nhuận. Các chương trình nâng năng suất, tiết kiệm và giảm lỗi phải quy đổi thành tiền; lợi nhuận phải chuyển hóa thành dòng tiền; tăng trưởng phải gắn với cải thiện thu nhập và điều kiện làm việc của người lao động. Đây cũng là điều kiện duy trì nguồn nhân lực và vị thế nhà cung cấp chiến lược.

Kết luận

Chính sách thuế sau ngày 24/7 tạo ra bất lợi tương đối cho Việt Nam so với một số đối thủ có mức thuế thấp hơn, nhưng chưa làm thay đổi căn bản vị thế của dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng Hoa Kỳ. Việt Nam vẫn là một trong những nguồn cung chủ lực, có nền tảng khá cân bằng về chi phí, khả năng đáp ứng linh hoạt và mức độ tích hợp chuỗi. Kinh nghiệm từ các đợt thuế trước cũng cho thấy tác động chủ yếu là điều chỉnh và phân bổ lại đơn hàng giữa các nguồn cung, trong khi khả năng đưa sản xuất may mặc trở lại Hoa Kỳ vẫn tương đối hạn chế.

Trong năm 2027, sức ép cạnh tranh sẽ lớn hơn khi các thương hiệu vừa tái cân bằng nguồn cung giữa các quốc gia, vừa có xu hướng tập trung đơn hàng vào những nhà cung cấp có năng lực tốt hơn. Vì vậy, khả năng duy trì và mở rộng vị thế của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục nâng cao năng suất, tốc độ, tính linh hoạt, năng lực phát triển sản phẩm và khả năng truy xuất, tuân thủ. Bất lợi về thuế là yếu tố cần được quản trị, nhưng vị thế đã được xây dựng trong chuỗi cung ứng vẫn là nền tảng quan trọng để dệt may Việt Nam tiếp tục cạnh tranh và khai thác cơ hội trong giai đoạn tới.

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 8/2026Chi tiết tại đây!