Vinatex tổ chức Hội thảo thị trường tháng 9/2026

Thứ Năm, 10/09/2026, 00:22

Chiều 9/9, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) tổ chức Hội thảo thị trường tháng 9 theo hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm thông tin về kết quả hoạt động SXKD của Vinatex trong 8 tháng năm 2026, một số nhận định về thị trường 4 tháng cuối năm. TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex chủ trì Hội thảo. Cùng dự có Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu; Lãnh đạo Cơ quan Điều hành và các Ban chức năng của Tập đoàn.

Hoi thao thang 9 2
Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến

Thông tin về tình hình SXKD 8 tháng và nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026, Tổng Giám đốc Cao Hữu Hiếu cho biết, trong bối cảnh thị trường dệt may thế giới còn nhiều biến động, kết quả của Tập đoàn tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, đặc biệt về hiệu quả và khả năng thích ứng của các đơn vị.

Hoi thao thang 9 4 scaled
Tổng Giám đốc Cao Hữu Hiếu thông tin về tình hình SXKD 8 tháng và nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026

Dự kiến kết quả trong 8 tháng, doanh thu hợp nhất của Vinatex tăng 8,3% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận trước thuế tăng 39,3%. Đáng chú ý, biên lợi nhuận trước thuế được cải thiện từ 7,4% lên 9,5%. Xét theo từng lĩnh vực, ngành Sợi là điểm sáng nổi bật với doanh thu tăng 18,8% và lợi nhuận tăng gần 3 lần so với cùng kỳ. Ngành Khăn tiếp tục duy trì tăng trưởng với doanh thu tăng 19,4%, lợi nhuận tăng 37,3%; Ngành Dệt – Nhuộm có hiệu quả được cải thiện mạnh. Riêng ngành May, doanh thu vẫn tăng 3,9%, nhưng chịu sức ép lớn về biên lợi nhuận khi cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt, đơn hàng nhỏ lẻ, thời gian giao hàng nhanh.

Theo Tổng Giám đốc Vinatex, tín hiệu tích cực là thị trường xuất khẩu vẫn được duy trì ổn định. Ngành May cơ bản đã có đơn đến hết quý IV, một số đơn vị đã kín năng lực và có đơn hàng cho đầu năm 2027. Với ngành Sợi, đơn hàng tháng 9 cơ bản đủ nhưng mức độ bao phủ từ tháng 10 trở đi chưa đồng đều. Dự kiến trong 9 tháng, Vinatex tiếp tục giữ đà tăng trưởng với doanh thu hợp nhất tăng khoảng 7,3%, lợi nhuận trước thuế tăng 37,8% so với cùng kỳ và vượt kế hoạch lợi nhuận năm.

Nhận diện 4 tháng cuối năm, Tổng Giám đốc Cao Hữu Hiếu cho biết, thị trường còn tiềm ẩn nhiều rủi ro với nhiều yếu tố bất lợi chưa có khả năng đảo chiều rõ rệt: giá bông, xơ biến động mạnh; tỷ giá tiềm ẩn bất lợi cho xuất khẩu khi tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng; nhu cầu tại Mỹ và EU có xu hướng thu hẹp; chi phí logistics và nguyên phụ liệu tiếp tục có xu hướng tăng gây sức ép lên biên lợi nhuận; yêu cầu về xuất xứ, phòng vệ thương mại ngày càng chặt chẽ; trong khi cạnh tranh từ Bangladesh, Trung Quốc và các quốc gia sản xuất dệt may tiếp tục gia tăng.

Trên cơ sở đó, Tổng Giám đốc Cao Hữu Hiếu yêu cầu các đơn vị trong 4 tháng cuối năm bảo vệ biên lợi nhuận và chất lượng tăng trưởng. Cụ thể: Giữ vững kết quả 8 tháng; kiểm soát chặt dòng tiền, công nợ, tồn kho và hiệu quả sử dụng vốn; Tập trung nâng năng suất, tiết giảm chi phí, cải thiện hiệu quả và bảo vệ biên lợi nhuận; Hoàn thành kế hoạch đầu tư trung hạn 2026–2030 theo từng ngành; Theo dõi sát thị trường, chính sách thuế quan Mỹ; chủ động cập nhật kịch bản điều hành và xây dựng kế hoạch 2027; Đẩy nhanh triển khai Dashboard quản trị, chuẩn hóa dữ liệu phục vụ điều hành; Với Ngành Sợi: Theo dõi sát giá bông/xơ, mua nguyên liệu thận trọng, bảo đảm đủ nguyên liệu cho sản xuất. Ngành May: Rà soát nhóm hàng, khách hàng hiệu quả thấp; điều phối đơn hàng và công suất; giữ khách hàng chiến lược, chuẩn bị đơn hàng và nguồn lực cho 2027.

Hoi thao thang 9 3
TS. Hoàng Mạnh Cầm – Chánh Văn phòng HĐQT cập nhật các thông tin về tình hình xuất nhập khẩu dệt may

Tại Hội thảo, TS. Hoàng Mạnh Cầm – Chánh Văn phòng HĐQT đã cập nhật diễn biến kinh tế vĩ mô các nền kinh tế lớn, tình hình xuất nhập khẩu dệt may và thị trường nguyên phụ liệu. Theo đó, bức tranh tại các thị trường lớn tiếp tục có sự khác biệt. Tại Mỹ, GDP quý II/2026 tăng 1,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng của quý I. Trong khi đó, bán lẻ quần áo tháng 7 tăng 6,5% so với cùng kỳ; EU ghi nhận GDP quý II tăng 1,4%, trong khi bán lẻ tháng 7  tăng 1% so với cùng kỳ; Tại khu vực châu Á, GDP Nhật Bản quý II tăng 1,4% so với cùng kỳ, bán lẻ tháng 7 tăng 4% nhưng riêng nhóm quần áo giảm 6,6%; Hàn Quốc ghi nhận GDP quý II tăng 3,7%, trong khi bán lẻ tháng 7 giảm 0,8% so với cùng kỳ; Với Trung Quốc, bán lẻ tháng 7 chỉ tăng 0,6%, riêng quần áo giảm 1%.

Diễn biến nhập khẩu tại các thị trường tiêu thụ lớn cũng cho thấy sự phân hóa. Lũy kế 7 tháng, nhập khẩu dệt may của Mỹ giảm 7,7%, trong đó may mặc giảm 9%, hàng dệt sợi giảm 5%; Nhập khẩu dệt may của EU trong 6 tháng giảm 8% so với cùng kỳ 2025. Ngược lại, Nhật Bản tăng 6,6% trong 7 tháng năm 2026, Hàn Quốc và Trung Quốc tăng lần lượt là 1% và 24% so với cùng kỳ 2025.

Đáng chú ý, Việt Nam tiếp tục dẫn đầu nhóm các quốc gia xuất khẩu dệt may về tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Riêng tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ; trong đó nhóm dệt – sợi tăng 40% và hàng may mặc tăng 3,2%. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu dệt may đạt 33,02 tỷ USD, tăng 6,7%; nhóm dệt – sợi tăng mạnh 37,4%, trong khi may mặc tăng 1,6%.

Ở nhóm quốc gia cạnh tranh, xuất khẩu dệt may Trung Quốc 7 tháng/2026 tăng 2,4%; Bangladesh 8 tháng/2026 tăng 3%, trong khi Ấn Độ 6 tháng đầu năm giảm 5,4%. Xuất khẩu dệt may Indonesia trong 7 tháng tăng 3%. Các số liệu cho thấy hoạt động thương mại dệt may tại những quốc gia sản xuất lớn tiếp tục diễn biến không đồng đều giữa từng thị trường và từng nhóm sản phẩm.

Về nguyên phụ liệu, dự báo tháng 8 của USDA cho thấy sản lượng bông toàn cầu vụ 2026/2027 giảm 3,8%, trong khi nhu cầu tiêu thụ tăng 1,9%, do đó giá bông có nhiều biến động đảo chiều.  Với xơ PSF, giá đầu tháng 9 có xu hướng tăng, do đó, giá xơ PSF trong thời gian tới có phụ thuộc đáng kể vào tình hình Trung Đông và nguồn cung nguyên liệu polyester tại Trung Quốc.

Một trong những nội dung quan trọng của Hội thảo, TS. Hoàng Mạnh Cầm đã trình bày nội dung về thị trường và các chính sách xuất khẩu của Trung Quốc và tác động đến ngành dệt may. Theo đó, sự mất cân đối giữa năng lực sản xuất lớn và sức cầu nội địa suy yếu đang khiến Trung Quốc tiếp tục dựa nhiều vào xuất khẩu để duy trì tăng trưởng. Với quy mô sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 30% toàn cầu, trong khi tiêu dùng trong nước phục hồi chậm, lượng hàng dư thừa có xu hướng được đẩy mạnh ra thị trường quốc tế. Điều này làm gia tăng cạnh tranh về giá, đặc biệt ở các ngành có năng lực sản xuất lớn như dệt may, sợi, hóa chất và nguyên phụ liệu.

Đối với dệt may, lợi thế của Trung Quốc không chỉ nằm ở quy mô mà còn ở chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, từ nguyên liệu, kéo sợi, dệt nhuộm đến may mặc và máy móc thiết bị, công nghê, logistics. Các chính sách tập trung đầu tư phát triển dệt may tại khu vực Tân Cương, đầu tư hạ tầng vận chuyển và nâng cấp chuỗi giá trị cho thấy nước này đang chuyển dần từ cạnh tranh bằng sản lượng sang chất lượng, thương hiệu và hiệu quả cung ứng. Tuy nhiên, chiến lược xuất khẩu của Trung Quốc cũng chịu sức ép ngày càng lớn. Mỹ và các nền kinh tế G7 đang chuyển từ kiểm soát nguồn cung sang tăng yêu cầu về xuất xứ, chuỗi cung ứng, môi trường và lao động. Xu hướng “Trung Quốc + 1” đang dần thay đổi về hình thái so với trước đây sau khi bất lợi về thuế quan giữa Trung Quốc với các quốc gia dệt may khác, bao gồm cả Việt Nam, không còn lớn như trước… Chính vì vậy, giai đoạn 2027–2028, lợi thế sẽ nghiêng về doanh nghiệp kiểm soát được xuất xứ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, rút ngắn thời gian giao hàng và xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch.

Hoi thao thi truong t9
TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex kết luận Hội thảo

Kết luận Hội thảo, TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex nhấn mạnh, trước những diễn biến rất nhanh của thị trường, yêu cầu các đơn vị chuyển trọng tâm từ tăng trưởng quy mô sang nâng cao hiệu quả, cải thiện biên lợi nhuận và chất lượng tăng trưởng.

Đối với ngành Sợi, cần bám sát diễn biến giá bông, kiểm soát chặt chất lượng nguyên liệu, hạn chế mua các loại bông chất lượng thấp có thể ảnh hưởng đến sản phẩm và khách hàng. Đồng thời, đa dạng hóa khách hàng, không phụ thuộc vào một thị trường, hay một vài khách hàng chủ lực; Với ngành May, trọng tâm không còn là bảo đảm đủ đơn hàng mà là cải thiện biên lợi nhuận. Các doanh nghiệp cần rà soát lại mô hình sản xuất, cơ cấu khách hàng, cơ cấu mặt hàng và phương thức kinh doanh. Xây dựng KPI cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả và biên lợi nhuận, thay vì chỉ tập trung vào doanh thu, lợi nhuận và cổ tức. Bên cạnh đó, các đơn vị cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đa dạng hóa đồng tiền thanh toán xuất nhập khẩu; Trong công tác tài chính, từng bước giảm phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng, tăng huy động từ vốn chủ sở hữu, đối tác và khách hàng lớn nhằm giảm chi phí vốn và nâng cao tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đánh giá về thị trường Trung Quốc, TS. Lê Tiến Trường nhận định, nền kinh tế Trung Quốc đang cho thấy sự phân hóa đáng chú ý giữa tăng trưởng và sức mua. GDP vẫn tăng khoảng 4,5%, nhưng tổng mức bán lẻ chỉ tăng 0,6%, phản ánh tiêu dùng và thu nhập người dân chưa cải thiện tương xứng. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ đầu tư của Nhà nước vào công nghệ cao, AI, chip và tự động hóa, trong khi đầu tư tư nhân giảm 9,2%, bất động sản giảm 20% và khu vực công nghiệp truyền thống chỉ tăng 4,5%. Điều này tạo nên một nền kinh tế “hai nửa”: công nghệ cao tăng tốc, nhưng các ngành sản xuất truyền thống và thị trường nội địa chịu sức ép lớn.

Trong bối cảnh Trung Quốc vừa tăng cường năng lực cạnh tranh công nghệ, vừa phải duy trì sản xuất truyền thống để bảo đảm việc làm, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nhìn Trung Quốc với cả hai vai trò vừa là thị trường tiêu thụ quan trọng vừa là nhân tố dẫn dắt thị trường toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung đang chuyển từ cuộc chiến thuế quan sang cuộc đua dài hạn về công nghệ, chuỗi cung ứng và ảnh hưởng thương mại. Trong thế giằng co này, Việt Nam cần tránh rơi vào thế phụ thuộc một thị trường. Việc theo dõi sát nhu cầu, giá nguyên liệu và công suất sản xuất của Trung Quốc sẽ là yếu tố then chốt để chủ động sản xuất, điều chỉnh tồn kho và dòng tiền.

PV