Thỏa thuận tạm thời giữa Mỹ và Iran không đạt được kết quả bền vững. Hai bên tiếp tục thực hiện các cuộc tấn công qua lại trên biển và bằng vũ khí tầm xa, đẩy căng thẳng khu vực vào giai đoạn leo thang liên tục. Điều này làm gia tăng bất ổn đại trà trên các tuyến hàng hải chiến lược như eo biển Hormuz và khu vực Vịnh Ba Tư, khiến chi phí vận tải, phí bảo hiểm hàng hải và phụ phí rủi ro chiến tranh (war risk surcharge) tăng mạnh. Với việc rủi ro vận chuyển gia tăng kéo dài, giá nhiên liệu và chi phí logistics cho ngành dệt may toàn cầu chịu áp lực lớn, làm xói mòn biên lợi nhuận của nhà sản xuất xuất khẩu.
Tác động chuỗi cung ứng: gián đoạn kéo dài và tái cấu trúc nguồn nhập
Xung đột kéo dài khiến chuỗi cung ứng quốc tế không chỉ tạm thời chậm lại mà còn phải tái cấu trúc dài hạn. Các nhãn hàng ở châu Âu và Bắc Mỹ gia tăng dự trữ, chuyển đơn hàng sang các nguồn cung ít rủi ro hơn và đẩy nhanh quá trình đa dạng hóa nhà cung cấp. Các nhà cung cấp nguyên phụ liệu (sợi tổng hợp, thuốc nhuộm, hóa chất xử lý) chịu ảnh hưởng bởi chi phí năng lượng tăng và gián đoạn vận chuyển, dẫn tới thiếu hụt nguồn vật liệu và biến động giá đầu vào. Đối với doanh nghiệp dệt may Việt Nam, hậu quả là chi phí đầu vào có thể tăng không lường trước được và thời gian giao hàng bị kéo dài, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch sản xuất và cam kết với đối tác quốc tế.
Tâm lý thị trường: khách hàng chia nhỏ đơn hàng, rủi ro đơn hàng mất
Trong bối cảnh xung đột kéo dài, nhãn hàng quốc tế giữ thái độ thận trọng hơn, ưu tiên hợp đồng ngắn hạn, đặt hàng nhỏ và điều chỉnh lịch cung ứng linh hoạt để ứng phó với rủi ro địa chính trị. Hệ quả là doanh nghiệp xuất khẩu phải thích ứng với mô hình “đơn hàng nhỏ, giao nhanh” thay vì dựa vào các hợp đồng lớn theo mùa truyền thống, điều này làm tăng chi phí vận hành trên mỗi đơn vị sản phẩm và yêu cầu năng lực sản xuất phản ứng nhanh. Đồng thời, khi chi phí logistics toàn cầu tăng, đối thủ cạnh tranh từ các vùng ít rủi ro hơn có thể giành ưu thế nếu doanh nghiệp Việt Nam không tối ưu chi phí nội địa.
Áp lực tài chính nội địa: tỷ giá, chi phí và ESG
Xung đột làm gia tăng biến động tài chính thế giới; đồng USD có xu hướng biến động, lãi suất và chi phí tài trợ thương mại có thể tăng do sự thận trọng của các định chế tài chính quốc tế. Trong khi giá xuất khẩu quy đổi sang VND có thể có lợi khi USD mạnh, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải nhập tới 50 – 60% nguyên phụ liệu, nên chi phí đầu vào tăng sẽ triệt tiêu lợi ích đó. Ngoài ra, chi phí nội địa như năng lượng, lương và chi phí tuân thủ tiêu chuẩn ESG đang tăng, tạo gánh nặng bổ sung cho biên lợi nhuận. Việc tiếp cận tín dụng ưu đãi trở nên khó khăn hơn khi ngân hàng thắt chặt điều kiện bảo đảm trong bối cảnh rủi ro toàn cầu gia tăng.

Chiến lược ứng phó cho doanh nghiệp dệt may
– Đưa số hóa và tự động hóa thành giải pháp nâng cấp mô hình cạnh tranh, biến chi phí lao động thấp thành năng suất cao, không chỉ để tiết kiệm chi phí trong vận hành mà là xây dựng năng lực sản xuất thông minh hơn, đáp ứng nhanh hơn và có giá trị cao hơn, nhất là cho các nhãn hàng lớn.
– Tối ưu hóa quản trị chuỗi cung ứng: chủ động đa dạng hóa nhà cung cấp (kết hợp nguồn nội địa và khu vực), tăng tỷ lệ tồn kho chiến lược cho các vật liệu nhạy cảm về giá và đàm phán điều khoản giao hàng linh hoạt với khách hàng.
– Quản trị tài chính và bảo hiểm rủi ro: sử dụng công cụ phòng ngừa tỷ giá, hợp đồng tương lai và các giải pháp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro biến động tiền tệ và thanh toán.
– Điều chỉnh điều kiện thương mại: khi chi phí vận tải cao và rủi ro vận chuyển lớn, cân nhắc chuyển từ FOB sang CIF/CFR có chọn lọc khi cần chủ động chọn hãng tàu hoặc ngược lại để chia sẻ rủi ro với đối tác.
– Tối ưu chi phí nội bộ: nâng cao năng suất, tự động hóa từng phần và rà soát chi phí năng lượng để giảm chi phí sản xuất cục bộ; đồng thời đẩy mạnh phát triển nguồn nguyên liệu nội địa hoặc khu vực để giảm phụ thuộc nhập khẩu.
– Linh hoạt sản phẩm và thị trường: phát triển dòng sản phẩm phù hợp với đơn hàng nhỏ, rút ngắn lead time và mở rộng thị trường xuất khẩu sang các khu vực ít chịu tác động trực tiếp của xung đột.
Khuyến nghị chính sách
Nếu xung đột giữa Mỹ và Iran tiếp tục kéo dài, tác động lên giá năng lượng và logistics sẽ trở thành “chi phí cố định” khó tránh cho nhiều năm, buộc ngành dệt may toàn cầu và Việt Nam phải thích nghi về chiến lược cung ứng và định giá sản phẩm. Nhà nước và các hiệp hội có thể hỗ trợ bằng cách thúc đẩy phát triển nguồn cung nội địa cho nguyên phụ liệu chiến lược, cung cấp cơ chế bảo lãnh tín dụng xuất khẩu ngắn hạn và hỗ trợ đàm phán chi phí logistics cho doanh nghiệp xuất khẩu. Các chính sách hỗ trợ tạm thời về tín dụng, bảo hiểm rủi ro thương mại và chương trình xúc tiến đa dạng hóa thị trường sẽ giúp giảm mức độ tổn thương của ngành trước cú sốc địa chính trị dai dẳng.
Xung đột Mỹ – Iran tái diễn làm tăng tính bất định và chi phí cho ngành Dệt May Việt Nam. Xét cho cùng thì trong kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro khách quan, bất khả kháng, không chiến tranh thì thiên tai, dịch bệnh, thuế quan… Trong bối cảnh đó, chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng và tài chính cùng chiến lược linh hoạt về sản phẩm và thị trường là điều kiện cần để bảo vệ biên lợi nhuận và duy trì năng lực cạnh tranh.
Bài viết của TS. Trần Văn – Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 7/2026. Chi tiết tại đây!






