Chiều 27/7, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) tổ chức Hội thảo chuyên đề tháng 7 theo hình thức trực tuyến và trực tiếp. TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex chủ trì Hội thảo. Cùng dự có Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu, Lãnh đạo Cơ quan điều hành, các Ban chức năng và đại diện Ban lãnh đạo các doanh nghiệp thành viên tại các điểm cầu.

Diễn biến thuế quan của Mỹ sau 24/7: Nhiều biến số cần tiếp tục theo dõi
Tại Hội thảo, TS. Hoàng Mạnh Cầm – Chánh Văn phòng HĐQT Vinatex đã cập nhật những diễn biến mới về chính sách thuế quan, thương mại của Mỹ, triển vọng kinh tế thế giới, xuất khẩu dệt may toàn cầu và thị trường nguyên phụ liệu. Trong đó, chính sách thuế của Mỹ sau ngày 24/7/2026 là nội dung được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Theo TS. Hoàng Mạnh Cầm, sau khi thời hạn 150 ngày áp dụng mức thuế 10% theo Section 122 kết thúc, Mỹ chuyển sang áp dụng thuế theo Section 301 liên quan đến lao động cưỡng bức, với ba nhóm chính:
- Nhóm chịu thuế 10% (cộng trực tiếp vào thuế MFN), gồm 17 nền kinh tế: Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Sri Lanka và Vương quốc Anh…
- Nhóm áp dụng cơ chế “net of MFN”, gồm EU, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ. Tổng thuế nhập khẩu của nhóm này được khống chế ở mức 10% hoặc 12,5%; nếu thuế MFN đã bằng hoặc cao hơn ngưỡng quy định thì không phát sinh thêm thuế Section 301.
- Nhóm chịu thuế 12,5% (cộng trực tiếp vào thuế MFN), gồm Việt Nam, Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nền kinh tế khác. Cách tính này khiến tổng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ cao hơn đáng kể so với nhóm được hưởng cơ chế “net of MFN”.
Cấu trúc thuế mới làm thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu dệt may. Chênh lệch thuế không chỉ tác động đến hàng may mặc thành phẩm mà còn có thể thúc đẩy sự dịch chuyển đơn hàng và chuỗi cung ứng đối với sợi, vải và nguyên liệu. Do đó, doanh nghiệp cần đánh giá tác động theo từng nhóm sản phẩm, thị trường và vị trí trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ so sánh mức thuế bình quân giữa các quốc gia.
Mỹ cũng đang xây dựng cơ chế hạn ngạch thuế quan – Tariff-rate Quota (TRQ) – đối với một số sản phẩm dệt may từ Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia. Hàng hóa nằm trong hạn ngạch và đáp ứng yêu cầu sử dụng bông, nguyên liệu dệt may có xuất xứ Mỹ có thể được miễn thuế Section 301; phần vượt hạn ngạch vẫn chịu mức thuế 10%. Tuy nhiên, USTR chưa công bố danh mục sản phẩm, quy mô hạn ngạch, phương thức phân bổ và cơ chế chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. Vì vậy, tác động thực tế của TRQ chỉ có thể được đánh giá đầy đủ khi các quy định chi tiết được ban hành. Trong thời gian từ ngày 24/7 đến khi cơ chế này chính thức vận hành, hàng hóa vẫn chịu mức thuế hiện hành, không có giai đoạn chuyển tiếp ưu đãi.
Song song với điều chỉnh thuế, Mỹ tiếp tục ký kết các Thỏa thuận thương mại đối ứng – Agreement on Reciprocal Trade (ART) – với các đối tác. Đến nay, Mỹ đã ký ART với 10 nền kinh tế, trong đó Jordan là đối tác mới nhất. Do Mỹ và Jordan đã có FTA và hoàn tất lộ trình xóa bỏ thuế từ năm 2011, hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ, bao gồm sản phẩm dệt may, tiếp tục được hưởng thuế nhập khẩu 0%. Đối với Việt Nam, hai nước đã đạt được khuôn khổ thống nhất chung và đang tiếp tục đàm phán để tiến tới ký kết chính thức.
Ngoài Section 301, Mỹ có xu hướng mở rộng việc sử dụng các công cụ thuế quan khác. Ngày 20/7/2026, Tổng thống Mỹ công bố áp thuế bổ sung 50% đối với khoảng 20 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Canada theo Section 338 của Đạo luật Thuế quan năm 1930. Biện pháp dự kiến có hiệu lực từ ngày 19/8/2026, áp dụng với nhiều mặt hàng tiêu dùng và công nghiệp, trong đó có quần áo và đồ nội thất; một số nhóm như năng lượng, khoáng sản quan trọng và hàng hóa đã chịu thuế theo Section 232 được loại trừ. Diễn biến này cho thấy chính sách thương mại của Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều bất định và có thể tiếp tục thay đổi theo từng đối tác, ngành hàng và mục tiêu chính sách.
Xuất khẩu dệt may Việt Nam duy trì tăng trưởng tích cực
Về kinh tế thế giới, TS. Hoàng Mạnh Cầm cho biết tăng trưởng tiếp tục ở trạng thái thận trọng khi các ngân hàng trung ương lớn duy trì chính sách tiền tệ tương đối chặt chẽ. Lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản vẫn ở mức cao, tạo áp lực lên tiêu dùng, đầu tư và chi phí vốn của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn duy trì đà tăng. Tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4,5 tỷ USD; lũy kế sáu tháng đạt khoảng 23 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhóm dệt, sợi, trong khi xuất khẩu hàng may mặc chỉ tăng nhẹ.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, tiếp theo là EU, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Xuất khẩu sang Trung Quốc và EU tăng khá cho thấy các thị trường trọng điểm đang có dấu hiệu phục hồi, đồng thời phản ánh nỗ lực đa dạng hóa thị trường của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mức tăng trưởng giữa các quốc gia cạnh tranh có sự phân hóa rõ rệt. Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thế giới, nhưng cơ cấu xuất khẩu đang chuyển dịch khi dệt, sợi tăng nhanh hơn hàng may mặc. Bangladesh phục hồi mạnh trong tháng 6, trong khi Ấn Độ tiếp tục gặp khó khăn do đơn hàng may mặc suy giảm; Indonesia chỉ duy trì mức tăng trưởng thấp. Diễn biến này cho thấy cạnh tranh không chỉ diễn ra về quy mô xuất khẩu mà ngày càng phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm, lợi thế thuế quan và khả năng thích ứng với sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng.
Vinatex “nỗ lực” cán đích kế hoạch SXKD năm 2026

Phát biểu tại Hội thảo, Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu cho biết, kết quả sản xuất kinh doanh 7 tháng đầu năm 2026 của Tập đoàn đạt tích cực, tạo cơ sở để tin tưởng Vinatex sẽ hoàn thành tốt, thậm chí hoàn thành sớm các chỉ tiêu kế hoạch năm. Tuy nhiên, lãnh đạo Tập đoàn lưu ý các đơn vị không được chủ quan khi biên lợi nhuận của cả ngành Sợi và May đang có xu hướng thu hẹp do giá nguyên liệu, giá bán, cơ cấu đơn hàng và chi phí đầu vào còn nhiều biến động.
Trong những tháng còn lại của năm 2026, Tổng Giám đốc yêu cầu các đơn vị tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, chủ động xây dựng và điều hành theo các kịch bản về đơn hàng, nguyên liệu, tỷ giá, logistics; đồng thời duy trì kỷ luật quản trị, kiểm soát chặt chi phí, dòng tiền, công nợ, tồn kho và vốn lưu động, nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng.
Đối với ngành Sợi, các đơn vị cần linh hoạt trong mua nguyên liệu, chốt đơn hàng và kiểm soát tồn kho bông, sợi, bảo đảm hiệu quả thực chất của từng đơn hàng. Đối với ngành May, bên cạnh tổ chức tốt các đơn hàng đã có đến cuối năm, cần ưu tiên đơn hàng có chất lượng và giá trị cao, đồng thời chủ động chuẩn bị, đàm phán đơn hàng cho quý I/2027.
Tổng Giám đốc đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ ổn định và giữ chân người lao động. Các đơn vị cần tiếp tục cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm việc làm, thu nhập và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người lao động; chủ động cân đối nguồn lực để chăm lo tiền lương, thưởng và phúc lợi cuối năm phù hợp với kết quả sản xuất kinh doanh. Qua đó, vừa bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2026, vừa củng cố nguồn lực, tạo nền tảng phát triển ổn định cho năm 2027 và các năm tiếp theo.
Tại Hội thảo, đại diện các doanh nghiệp cũng đã chia sẻ nhanh tình hình về đơn hàng, xu hướng ký kết đơn hàng, đơn giá, tiến độ giao hàng và các khó khăn của thị trường khi chính sách thuế quan còn tiểm ẩn nhiều rủi ro.
Phát huy sức mạnh của toàn hệ thống, tạo nền tảng tăng trưởng bền vững

Phát biểu kết luận Hội thảo, Chủ tịch HĐQT Vinatex Lê Tiến Trường nhận định, chính sách thuế mới của Hoa Kỳ áp dụng từ ngày 24/7 đã hình thành các tầng thuế quan khác nhau giữa các nền kinh tế, làm thay đổi tương quan cạnh tranh trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu. Tác động của chính sách này không thể chỉ được đánh giá qua mức thuế bình quân, mà cần phân tích đồng thời thuế MFN, thuế bổ sung thực tế, cơ cấu mặt hàng, nguồn gốc nguyên liệu và khả năng dịch chuyển đơn hàng giữa các quốc gia. Trong khi doanh số bán lẻ quần áo tại Hoa Kỳ vẫn tăng nhẹ về giá trị danh nghĩa, kim ngạch nhập khẩu suy giảm và quy mô tồn kho không thay đổi đáng kể, cho thấy phần tăng doanh thu chủ yếu phản ánh yếu tố giá và thuế, còn sản lượng tiêu thụ thực tế đang thu hẹp. Bối cảnh này đòi hỏi các đơn vị phải đánh giá lại vị thế cạnh tranh theo từng ngành hàng, phân khúc và mắt xích của chuỗi giá trị; chủ động nhận diện cả rủi ro đối với hàng may mặc và những cơ hội mới đối với sợi, vải, nguyên liệu và các khâu sản xuất trung gian.
Chủ tịch HĐQT yêu cầu công tác nghiên cứu thị trường phải được thực hiện có hệ thống, đi trước hoạt động kinh doanh và chuyển hóa thành các quyết định cụ thể về thị trường, khách hàng, sản phẩm và giá bán. Việc phân tích cần đi sâu đến từng nhóm hàng, đặc điểm tiêu dùng và mức độ nhạy cảm của nhu cầu đối với giá, qua đó xác định biên độ thương lượng phù hợp, tránh cả hai khuynh hướng: giảm giá thiếu cơ sở do sức ép ngắn hạn từ khách hàng hoặc giữ giá cứng nhắc dẫn đến mất đơn hàng và suy giảm công suất. Các ban SXKD và doanh nghiệp cần chủ động rà soát, khảo sát, phát triển những thị trường xuất hiện lợi thế mới từ thay đổi tương quan thuế quan, nhất là đối với sợi, vải và sản phẩm trung gian; qua đó đa dạng hóa đầu ra, khai thác sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và chuẩn bị thị trường cho năm 2027. Việc lựa chọn thị trường phải đồng thời xem xét hiệu quả, khả năng thanh toán, yêu cầu xuất xứ và mức độ rủi ro, không chạy theo lợi thế thuế quan đơn thuần.
Về nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2026, Chủ tịch nêu rõ năng lực quản trị phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể về năng suất, giá thành, cơ cấu sản phẩm, hiệu suất thiết bị và chất lượng đàm phán với khách hàng. Mọi chương trình tiết kiệm, cải tiến và nâng cao năng suất phải được lượng hóa thành giá trị kinh tế, góp phần bù đắp chi phí gia tăng và kiểm soát mức suy giảm lợi nhuận trong giới hạn hợp lý.
Về tài chính, Chủ tịch HĐQT yêu cầu các đơn vị đặc biệt coi trọng chất lượng dòng tiền, kiểm soát chặt công nợ, tồn kho, vốn lưu động và chi phí vốn. Lợi nhuận kế toán phải được chuyển hóa thành dòng tiền thực chất từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế tình trạng có lợi nhuận nhưng thiếu thanh khoản. Kế hoạch tài chính cần được xây dựng từ các mục tiêu đầu ra về lợi nhuận, dòng tiền và thu nhập người lao động, từ đó xác định ngược lại yêu cầu về doanh thu, đơn giá, năng suất, giá thành và tiến độ thu hồi công nợ.
Về cải thiện thu nhập và điều kiện lao động, Chủ tịch HĐQT khẳng định quan điểm xuyên suốt là tăng trưởng phải gắn với nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc và chăm lo tốt hơn đời sống của người lao động. Trong trường hợp phải chia sẻ một phần kết quả kinh doanh, sự chia sẻ đó trước hết cần dành cho người lao động, bởi đây vừa là trách nhiệm của doanh nghiệp, vừa là giải pháp căn cơ để ổn định lực lượng sản xuất, giữ chân lao động có kỹ năng và bảo đảm khả năng thực hiện đơn hàng. Các đơn vị phải chủ động cân đối nguồn lực ngay từ thời điểm hiện tại, xây dựng phương án tiền lương, thưởng và phúc lợi cuối năm phù hợp với hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm thu nhập của người lao động được cải thiện thực chất và có tính bền vững.
Về đầu tư trung hạn, toàn hệ thống cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang đầu tư chiều sâu, ưu tiên đổi mới công nghệ, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, nâng cao năng suất và cải thiện điều kiện làm việc. Mỗi dự án phải được đánh giá trên cơ sở hiệu quả khai thác tài sản, thời gian thu hồi vốn, khả năng giảm lao động và mức độ an toàn tài chính. Tập đoàn sẽ phát huy lợi thế quy mô trong nghiên cứu, lựa chọn công nghệ và làm việc với các nhà cung cấp, đồng thời tăng cường chia sẻ kinh nghiệm để hạn chế đầu tư phân tán, giảm chi phí và rủi ro lựa chọn sai.
Kết luận Hội thảo, Chủ tịch HĐQT nhấn mạnh, mục tiêu không chỉ là hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2026 mà còn phải sử dụng kết quả của năm nay để củng cố thị trường, năng lực tài chính, chất lượng quản trị và nguồn nhân lực cho giai đoạn tiếp theo. Sức mạnh của Vinatex phải được hình thành từ sự thống nhất về định hướng, chia sẻ tri thức, phối hợp nguồn lực và phát huy lợi thế quy mô toàn hệ thống; qua đó nâng cao hiệu quả tổng thể, chăm lo tốt hơn cho người lao động và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
PV





