Dệt May Việt Nam: Thoát “thách thức kép”, xoay chuyển cục diện

Thứ Tư, 22/04/2026, 14:44

Trước áp lực của cạnh tranh địa chính trị và các rào cản thương mại mới, ngành Dệt May Việt Nam đang nỗ lực tìm lời giải cho bài toán chi phí và năng suất. Bằng cách kết hợp giữa tư duy quản trị linh hoạt và sức mạnh của công nghệ AI, robot, doanh nghiệp Việt kỳ vọng sẽ bảo vệ được vị thể then chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thách thức “họa vô đơn chí” từ địa chính trị và pháp lý

Cả thế giới căng mình dõi theo tình hình chiến tranh Mỹ-Israel Iran và những tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu. Không chỉ nước nghèo lo lắng mà cả những nước giàu cũng lo không kém khi giá xăng dầu biến động từng ngày, tuyến vận tải Hormuz đình trệ gây đứt gãy chuỗi logistics, ảnh hưởng dây chuyền tới nhiều mặt hàng nguyên, nhiên liệu quan trọng, nguy cơ đình trệ kinh tế toàn cầu…

Trong bối cảnh rối ren đó, ngành Dệt May Việt Nam ngoài việc phải đối mặt với khủng hoảng từ cuộc chiến tranh Mỹ/Israel – Iran, bắt đầu cuối tháng 2/2026, còn phải lo ứng phó với cuộc điều tra Section 301 của USTR khởi xướng ngày 12/3/2026 và dự kiến kết thúc điều trần trong tháng 4/2026, nhắm vào lao động cưỡng bức tại 60 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Nói là “họa vô đơn chí” có lẽ cũng không sai vì tổng chi phí đầu vào của ngành có thể tăng 10-30% do chiến tranh trong khi biên lợi nhuận khá thấp (3-5%), nguy cơ thuế quan bổ sung do hệ quả của việc điều tra có thể dẫn đến thuế quan bổ sung nếu USTR kết luận bất lợi trong khi doanh nghiệp dệt may phụ thuộc xuất khẩu vào thị trường Mỹ-EU tới hơn 60%.

Vấn đề là chúng ta có thể ứng phó với những thách thức đó được không hay có thể giảm thiểu những tác động tiêu cực của những thách thức đó đối với doanh nghiệp dệt may và làm bằng cách nào.

Trong chiến lược tổng thể, việc tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung nguyên liệu, nhất là polyester nhập khẩu vẫn là một giải pháp lâu dài, bởi lẽ giá dầu tăng đang đẩy chi phí sản xuất dệt may Việt Nam lên đáng kể, đặc biệt qua nguyên liệu hóa dầu, khi dầu thô tăng sẽ đẩy giá nguyên phụ liệu tăng cao, có thể tới vài chục phần trăm. Chi phí logistics quốc tế và nội địa tăng do giá xăng dầu, lộ trình biển dài thêm do phải tránh eo biển Hormuz, Biển Đỏ và các loại phụ phí khẩn cấp, bảo hiểm rủi ro chiến tranh, chi phí vận hành sản xuất cũng leo thang do giá điện năng, dầu nhớt, tạo áp lực nhiều lớp. Đơn cử, Hãng tàu CMA CGM đã áp phụ phí khẩn cấp 3.000 USD cho một container 40 feet từ ngày 2/3/2026, 4.000 USD cho hàng đặc biệt. Giá cước Á-Âu/xuyên Thái Bình Dương tăng mạnh, lịch sử từng vọt từ 1.500 USD lên 5.500 USD cho một container 40 feet khi có những bất ổn tương tự.

cef86f79ed9e0074d7f23bae3321d782c3ef51545bd12d DQl98z scaled

Công nghệ và AI: Chìa khóa cho “tăng trưởng thực chất”

Ngoài việc phải đồng thời giải bài toán lớn có rất nhiều biến số như: chia sẻ rủi ro với đối tác qua tăng giá nhẹ hoặc hỗ trợ logistics, tiếp tục đa dạng hóa thị trường, nguồn cung, các điều khoản đặc biệt trong hợp đồng vận chuyển, bảo hiểm, thì vấn đề tiếp tục tăng cường đầu tư vào công nghệ để bù đắp chi phí vận hành, nâng cao năng suất lao động và sản xuất bền vững vẫn là giải pháp vô cùng quan trọng. Thực tiễn cho thấy đầu tư vào công nghệ có thể giúp doanh nghiệp dệt may tăng năng suất lao động 20-50%, giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh. Đây chính là cách các doanh nghiệp dệt may, đi đầu là Vinatex đóng góp trực tiếp thực hiện mục tiêu “tăng trưởng thực chất”, “chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn” mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 25/3/2026.

Đã có những mô hình thành công khi áp dụng robot cắt may tự động và dùng trí tuệ nhân tạo để giám sát máy móc giúp tiết giảm thời gian sản xuất, lỗi kỹ thuật, đặc biệt ở khâu cắt vải và đóng gói cũng như theo dõi hệ thống, rút ngắn xử lý đơn hàng. Hay ứng dụng công nghệ thiết kế 3D và số hóa rập mẫu giảm thời gian từ tháng xuống ngày, tiết kiệm chi phí may mẫu gần 100%, tích hợp ERP/CRM quản lý chuỗi cung ứng, kho bãi, nhân sự để tối ưu quy trình toàn diện. Việc ứng dụng công nghệ thông minh như hệ thống máy may công nghiệp có hỗ trợ AI đã giúp giảm thao tác của công nhân, tăng năng suất 20-30% hay dùng phân tích dữ liệu lớn để giảm các loại lãng phí và tối ưu hóa nguồn lực. Đây là xu thế không thể đảo ngược với AI và robot ngày càng tiến hóa với tốc độ khủng khiếp mà ngay cả con người cũng chưa thể hình dung, cảm nhận hết được.

Chiến lược ứng phó và tuân thủ tiêu chuẩn toàn cầu

Với thách thức từ điều khoản Section 301, doanh nghiệp nên kiểm toán chuỗi cung ứng để loại bỏ rủi ro lao động cưỡng bức, tuân thủ hướng dẫn ILO/VCCI về nhận diện và phòng ngừa; đa dạng hóa nguồn nguyên phụ liệu, đầu tư công nghệ xanh ESG để nâng cạnh tranh lâu dài. Các doanh nghiệp cần đảm bảo tuân thủ Bộ luật Lao động (năm 2019), kết hợp chứng nhận UFLPA (Đạo luật ngăn ngừa lao động cưỡng bức Duy Ngô Nhĩ/ Uyghur Forced Labor Prevention Act) hoặc tương đương để giữ chân thị trường Mỹ và EU. Đào tạo nhân sự về ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) lao động, áp dụng phần mềm blockchain theo dõi nguồn gốc nguyên liệu từ sợi đến thành phẩm; phối hợp với VCCI, Bộ Công thương để kiểm tra định kỳ và báo cáo minh bạch, khách quan.

Việt Nam từng khắc phục các hạn chế, giải trình hợp lý để đạt thỏa thuận tương tự trước đây để tránh thuế quan, không chỉ đối với ngành dệt may mà cả đối với một số ngành hàng hay lĩnh vực khác. Do đó, các doanh nghiệp cần tham gia tích cực vào quá trình góp ý công khai với USTR để giải trình về thực tế sản xuất tại Việt Nam cũng như tận dụng kinh nghiệm từ các cuộc điều tra thương mại trước đây để phối hợp với Chỉnh phủ đưa ra các lập luận hợp lý nhằm tránh các mức thuế quan bổ sung.

Có thể nói, những khó khăn này đã được lãnh đạo Vinatex dự liệu từ trước khi nhận định “2026 tiếp tục là năm của những diễn biến phức tạp, đổi chiều liên tục”, đòi hỏi “vai trò của lãnh đạo cấp cao doanh nghiệp trong điều hành linh hoạt, tốc độ phản ứng và thu xếp các yêu cầu mới của thị trường trở thành chìa khóa cho kết quả sản xuất kinh doanh 2026” (“Ngành dệt may thế giới và Viêt Nam 2026 trong màn sương mờ của thuế đối ứng” do TS Lê Tiến Trường chủ biên, NXB Bách Khoa, Hà Nội, 2025, trang 218).

мокап3 copy scaled

Trong bối cảnh thách thức kép từ chiến tranh ở Trung Đông và điều tra Section 301, ngành Dệt May Việt Nam cần hành động quyết liệt, từ đa dạng hóa thị trường và nguồn cung đến đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ số hóa cùng ESG, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt, minh bạch các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro ngắn hạn mà còn là chìa khóa để ngành dệt may không chỉ vượt qua “họa vô đơn chí” mà còn nâng tầm cạnh tranh bền vững, biến thách thức thành cơ hội vươn ra chuỗi cung ứng toàn cầu. Với kinh nghiệm vượt qua các cuộc điều tra trước đây, Việt Nam hoàn toàn có khả năng bảo vệ và phát triển ngành công nghiệp dệt may then chốt của mình.

Bài viết của TS. Trần Văn được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 4/2026. Chi tiết tại đây!