Thị trường với Vinatex – Vinatex với thị trường (tháng 7/2026)

Thứ Ba, 28/07/2026, 13:40

IMF: Áp lực chi phí toàn cầu còn lớn, tiêu dùng dệt may phục hồi không đồng đều

Ngày 8/7/2026, IMF công bố Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng 7/2026, trong đó dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 3,0% năm 2026 và phục hồi lên 3,4% năm 2027. So với các dự báo trước, triển vọng tăng trưởng năm 2026 đã giảm từ 3,3% trong báo cáo tháng 1 xuống 3,1% trong tháng 4 và 3,0% trong tháng 7. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý hơn là áp lực lạm phát và chi phí đầu vào tăng rõ rệt: lạm phát toàn cầu năm 2026 được dự báo ở mức 4,7%, cao hơn mức 4,4% trong tháng 4 và 3,8% trong tháng 1.

IMF dự báo giá dầu năm 2026 tăng 31,8%, khí tự nhiên tăng 22%, phân bón tăng 26% và giá thực phẩm tăng 8%, phản ánh tác động của chi phí năng lượng, phân bón và vận tải. Thương mại thế giới được dự báo tăng 3,5% năm 2026, cao hơn dự báo tháng 4, nhưng một phần đến từ việc doanh nghiệp đẩy nhanh giao hàng, điều chỉnh chuỗi cung ứng và tăng trưởng của dòng hàng công nghệ.

Về thị trường, Mỹ vẫn duy trì tăng trưởng 2,3% trong năm 2026 nhưng lạm phát dự báo ở mức 3,6%, có thể khiến tiêu dùng hàng không thiết yếu tiếp tục nhạy cảm với giá. Khu vực châu Âu chỉ tăng 0,9%, trong khi niềm tin tiêu dùng yếu và chi phí năng lượng cao tiếp tục tạo sức ép lên nhu cầu. Ngược lại, một số nền kinh tế châu Á như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia và Malaysia vẫn duy trì tăng trưởng tương đối tích cực, nhưng khu vực này cũng chịu áp lực lớn từ giá năng lượng.

Tác động & lưu ý:

– IMF cho rằng rủi ro đã cân bằng hơn so với tháng 4 nhưng vẫn nghiêng về phía bất lợi, gồm tái leo thang bất ổn Trung Đông, biến động chuỗi cung ứng, phân mảnh thương mại và điều chỉnh kỳ vọng về AI. DN cần quản trị theo nhiều kịch bản, không lập kế hoạch dựa trên giả định thị trường sẽ “ổn định dần”.

– Thương mại toàn cầu được dự báo giảm tốc từ 5,0% năm 2025 xuống 3,5% năm 2026; phần tăng trưởng còn lại đến nhiều từ giao hàng sớm, điều chỉnh chuỗi cung ứng, chuyển hướng thương mại và dòng hàng công nghệ. Vì vậy, chưa thể coi đây là tín hiệu phục hồi đồng đều của đơn hàng dệt may.

– Áp lực chi phí năng lượng, logistics, lãi suất và tỷ giá có thể tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu quả đơn hàng 6 tháng cuối năm; DN cần cập nhật kịch bản chi phí trong báo giá, kế hoạch sản xuất và đàm phán giao hàng.

– Cần theo dõi sát sức mua tại các thị trường nhập khẩu lớn, do tăng trưởng toàn cầu vẫn thấp và lạm phát có thể làm giảm nhu cầu tiêu dùng.

Nguồn: IMF World Economic Outlook Update, 07/2026

EU cat giam ESRS

EU cắt giảm mạnh yêu cầu báo cáo phát triển bền vững

Ngày 3/7, Ủy ban châu Âu (EC) đã thông qua bộ tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững châu Âu (ESRS) sửa đổi cùng bộ tiêu chuẩn báo cáo tự nguyện dành cho doanh nghiệp nhỏ ngoài phạm vi áp dụng của Chỉ thị Báo cáo Bền vững của Doanh nghiệp (CSRD). Động thái này nằm trong gói đơn giản hóa “Omnibus I”, nhằm giảm gánh nặng tuân thủ và chi phí báo cáo ESG cho doanh nghiệp.

Theo EC, bộ ESRS sửa đổi sẽ cắt giảm hơn 60% số chỉ tiêu báo cáo bắt buộc và hơn 70% tổng số chỉ tiêu công bố thông tin. Chi phí báo cáo dự kiến giảm hơn 30% cho mỗi doanh nghiệp. Đồng thời, bộ tiêu chuẩn tự nguyện mới sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ và nhà cung cấp ngoài phạm vi CSRD có khuôn khổ chung để phản hồi yêu cầu thông tin ESG từ các khách hàng và tổ chức tài chính lớn tại EU. Các tiêu chuẩn sửa đổi hiện sẽ được chuyển tới Nghị viện châu Âu và Hội đồng EU để rà soát trước khi chính thức có hiệu lực.

Tác động & lưu ý:

– EU đang giảm gánh nặng báo cáo và chi phí tuân thủ, nhưng không đồng nghĩa với việc nới lỏng các yêu cầu ESG trong chuỗi cung ứng.

– DN dệt may xuất khẩu vào EU vẫn cần chuẩn bị dữ liệu về phát thải, năng lượng, nước, lao động, truy xuất nguồn gốc và hóa chất để đáp ứng yêu cầu từ khách hàng quốc tế, tổ chức tài chính và các cơ chế thương mại xanh trong thời gian tới. Tuy nhiên, gánh nặng hành chính và 1 phần chi phí tuân thủ sẽ được cắt giảm.

– Bộ tiêu chuẩn tự nguyện mới có thể giúp giảm tình trạng mỗi khách hàng yêu cầu một bộ dữ liệu ESG khác nhau, qua đó hỗ trợ các nhà cung cấp ngoài EU chuẩn hóa hoạt động báo cáo bền vững.

Nguồn: European Commission

https://finance.ec.europa.eu/news/commission-adopts-revised-sustainability-reporting-standards-reduce-administrative-burdens eu-2026-07-03_en

8b8ef4fdb354a262454f048ff7ddcde9

Cước container tiếp tục tăng, áp lực logistics chưa hạ nhiệt

Cước vận tải container quốc tế tiếp tục tăng khi mùa cao điểm đến sớm, trong khi năng lực vận tải trên các tuyến chính chưa phục hồi hoàn toàn. Theo dữ liệu cập nhật từ Drewry World Container Index, trong tuần 02/7 giá cước bình quân tăng 9% lên 4.530 USD/container 40 feet so với tuần 25/6, là mức cao nhất kể từ tháng 9/2024. Tuyến Thượng Hải – New York tăng 11% lên 7.902 USD/container, Thượng Hải – Los Angeles tăng 10% lên 6.349 USD/container. Trên tuyến Á – Âu, cước Thượng Hải – Genoa tăng 10% lên 6.360 USD/container, Thượng Hải – Rotterdam tăng 7% lên 4.682 USD/container.

Drewry cho biết các hãng tàu tiếp tục công bố phụ phí mùa cao điểm trong tháng 7 và dự báo cước có thể tăng thêm trong các tuần tới. Dù một số hãng tàu đang từng bước nối lại tuyến qua kênh đào Suez, rủi ro an ninh tại Trung Đông vẫn ở mức cao, khiến khả năng cước giảm nhanh trong ngắn hạn chưa rõ ràng.

Tác động & lưu ý:

– DN dệt may xuất khẩu cần cập nhật cước vận tải, phụ phí mùa cao điểm vào báo giá, kế hoạch giao hàng và dự toán hiệu quả đơn hàng.

– Cần chủ động làm việc với khách hàng về điều khoản giao hàng, chia sẻ chi phí phát sinh và phương án dự phòng nếu lịch tàu tiếp tục biến động.

Nguồn: Drewry World Container Index

https://www.drewry.co.uk/supply-chain-advisors/supply-chain-expertise/world-container-index-assessed-by-drewry

TT 33 BCT

Thông tư 33/2026/TT-BCT: DN dệt may cần rà soát lại hồ sơ hợp quy sản phẩm

Ngày 30/6/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 33/2026/TT-BCT về Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Thông tư 41/2023/TT BCT về Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn.

Đối với ngành dệt may, điểm cần lưu ý là nhóm sản phẩm dệt may tiếp tục thuộc danh mục quản lý chất lượng, gắn với QCVN 01:2017/BCT về mức giới hạn hàm lượng formaldehyde và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo. Danh mục được ban hành kèm mã HS 8 số, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng và yêu cầu quản lý chất lượng. Về nguyên tắc, sản phẩm thuộc danh mục phải thực hiện công bố phù hợp quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy, kết quả thử nghiệm hoặc đánh giá phù hợp theo quy định.

Thông tư cũng quy định chuyển tiếp: tổ chức, cá nhân đã đánh giá phù hợp, công bố hợp quy trước ngày Thông tư có hiệu lực được tiếp tục sử dụng giấy chứng nhận hợp quy, dấu hợp quy đến hết thời hạn hiệu lực và không phải đăng ký lại bản công bố hợp quy.

Tác động & lưu ý:

– DN dệt may có sản phẩm lưu thông tại thị trường Việt Nam cần rà soát mã HS, nhóm hàng thuộc danh mục, hồ sơ thử nghiệm, công bố hợp quy và thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận/dấu hợp quy. Lưu ý áp dụng cho cả hàng sản xuất trong nước để bán tại Việt Nam và hàng nhập khẩu để kinh doanh tại Việt Nam, nếu thuộc danh mục quản lý.

– Các đơn vị chủ yếu sản xuất xuất khẩu nhưng có phát sinh bán nội địa, xử lý hàng dư, hàng tồn, hàng mẫu, hàng trả lại hoặc phát triển kênh phân phối trong nước cần đặc biệt lưu ý, tránh coi đây là quy định chỉ liên quan đến hàng nhập khẩu hoặc chỉ áp dụng cho doanh nghiệp thương mại.

– DN nên cập nhật song song các sửa đổi liên quan đến QCVN 01:2017/BCT về formaldehyde và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo, vì đây là quy chuẩn kỹ thuật trực tiếp gắn với nhóm sản phẩm dệt may trong danh mục. Bên cạnh đó, trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được dẫn chiếu tại thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia sửa đổi, bổ sung, thay thế.

Nguồn: Bộ Công Thương, Thông tư 33/2026/TT-BCT ngày 30/6/2026

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 7/2026Chi tiết tại đây!