I. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
Định hướng chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với yêu cầu cấp thiết phải phát huy cao hơn nữa vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững. Ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, thể hiện bước phát triển về tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới; xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc.
Những định hướng lớn về nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
Một là, đột phá về thể chế, quản trị và nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Một trong những định hướng đột phá quan trọng của Nghị quyết số 80-NQ/TW là yêu cầu đổi mới căn bản thể chế, cơ chế, chính sách và mô hình quản trị văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển, lấy hiệu quả và tính bền vững làm thước đo. Nghị quyết nhấn mạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, văn học, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại, tạo môi trường thuận lợi để khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.
Điểm mới có ý nghĩa chiến lược là việc chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “quản trị” văn hóa, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với việc xây dựng và công khai minh bạch các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình quản lý. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, mà còn tạo điều kiện giải phóng sức sáng tạo của các chủ thể văn hóa trong khuôn khổ pháp luật và chuẩn mực xã hội.
Cùng với đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn lực đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa, coi đây là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa vai trò trụ cột của văn hóa trong phát triển đất nước. Xác định tỷ lệ chi ngân sách cho văn hóa bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế. Đồng thời đẩy mạnh các mô hình hợp tác công – tư, xã hội hóa đầu tư văn hóa, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong huy động và sử dụng nguồn lực, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả trong thời gian qua.
Hai là, trọng tâm xây dựng con người, môi trường văn hóa và hệ sinh thái văn hóa.
Nghị quyết xác định xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là mục tiêu trung tâm, xuyên suốt của phát triển văn hóa. Trên cơ sở triển khai đồng bộ các hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại, trong đó các giá trị tốt đẹp của dân tộc được bồi đắp, lan tỏa và trở thành nền tảng cho sự phát triển bền vững xã hội.
Một điểm nhấn quan trọng là yêu cầu xây dựng “thế trận văn hóa” gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh gay gắt về giá trị, ảnh hưởng văn hóa. Văn hóa được xác định không chỉ là “sức mạnh mềm”, mà còn là “lá chắn tinh thần”, góp phần nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những tác động tiêu cực, lệch chuẩn và các biểu hiện xâm nhập văn hóa không phù hợp.
Bên cạnh đó, Nghị quyết tiếp cận phát triển văn hóa theo hướng xây dựng hệ sinh thái văn hóa, coi người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là trung tâm thụ hưởng các giá trị và thành quả văn hóa. Việc gắn kết chặt chẽ văn hóa với giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, kinh tế, môi trường và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội tạo nền tảng cho sự phát triển cộng sinh, bền vững, qua đó khẳng định vai trò điều tiết và dẫn dắt của văn hóa trong phát triển quốc gia.
Ba là, phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế về văn hóa.
Nghị quyết xác định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những hướng đột phá quan trọng để đưa văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Trọng tâm của định hướng này là việc hình thành và phát triển các chuỗi giá trị văn hóa – sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, từ khâu sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong sáng tạo, sản xuất và phân phối văn hóa không chỉ mở rộng không gian phát triển văn hóa Việt Nam, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa trên thị trường khu vực và quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia và các nền tảng số dùng chung, tạo nền tảng cho sự phát triển đồng bộ, hiện đại của văn hóa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, gắn phát triển văn hóa với xây dựng và lan tỏa thương hiệu quốc gia. Việc xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa mang bản sắc Việt Nam cùng với triển khai chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới được xác định là giải pháp quan trọng nhằm gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh mạnh mẽ về giá trị, ảnh hưởng của văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW có ý nghĩa như một tuyên ngôn chính trị – văn hóa, thể hiện quyết tâm của Đảng trong phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị bền vững, củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia. Việc tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp và toàn xã hội. Chỉ khi các quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết được cụ thể hóa bằng chương trình, kế hoạch hành động thiết thực, với tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, văn hóa Việt Nam mới thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh, ngọn đuốc soi đường và động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản
Tổng Bí thư: Làm sao để có những sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam
Phát biểu tại Phiên họp chuyên đề đánh giá tình hình triển khai thực hiện và giải pháp thúc đẩy các công nghệ chiến lược, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành khoa học, công nghệ mà là vấn đề chiến lược của quốc gia, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, tự chủ phát triển và vị thế của đất nước trong giai đoạn mới.
Tổng Bí thư yêu cầu, công nghệ chiến lược phải phục vụ trực tiếp cho việc: nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; hình thành các ngành công nghiệp mới; bảo đảm tự chủ về công nghệ trong những lĩnh vực then chốt. Nói cách khác, công nghệ chiến lược phải gắn với chuỗi ngành công nghiệp có vai trò trụ cột đối với nền kinh tế, chứ không thể chỉ dừng lại ở các khái niệm chung.
Do vậy, theo Tổng Bí thư, việc xác định công nghệ chiến lược của Việt Nam cần dựa trên 3 yếu tố cơ bản: Nhu cầu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; Lợi thế, tiềm năng của các ngành công nghiệp trong nước; Khả năng hình thành chuỗi giá trị và thị trường cho sản phẩm công nghệ.
Về định hướng xác định danh mục công nghệ chiến lược, Tổng Bí thư yêu cầu, danh mục công nghệ chiến lược cần tiếp cận theo cơ cấu 02 nhóm: Nhóm các công nghệ chiến lược thuộc ngành, lĩnh vực đã có thị trường và có tác động lớn, trực tiếp, trước mắt, như nông – lâm – thủy sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng… Đối với nhóm này, doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt đầu tư; Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo thị trường thông qua chính sách mua sắm công và ban hành các gói hỗ trợ phù hợp; cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực. Nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng (ví dụ như công nghệ lượng tử, công nghệ tên lửa, lò phản ứng hạt nhân nhỏ, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế độ cao/không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ, UAV)… Đối với nhóm này, Nhà nước chủ động đầu tư, đặt hàng (mua sản phẩm hoặc nghiên cứu) và dẫn dắt; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo tham gia triển khai.
Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, doanh nghiệp phải thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ. Các cơ chế chính sách phải được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân. Nhà nước tập trung thực hiện 4 vai trò: định hướng chiến lược; tạo môi trường thể chế thuận lợi; đặt hàng và hỗ trợ nghiên cứu phát triển công nghệ; hỗ trợ thương mại hoá sản phẩm và mở rộng thị trường.
Tổng Bí thư cũng lưu ý, phải đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Không có nhân lực tốt thì không thể có công nghệ tốt. Không có đội ngũ chuyên gia giỏi, kỹ sư giỏi, nhà khoa học mạnh, nhà quản trị công nghệ tốt thì không thể làm chủ công nghệ chiến lược. Vì vậy, đào tạo và thu hút nhân lực phải đi trước một bước. Đồng thời, phải thúc đẩy mạnh hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nguồn từ viện, trường; hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đủ mạnh, đủ mở, đủ linh hoạt để kết nối nghiên cứu với thị trường.
“Chúng ta phải làm sao để trong những năm tới, khi nhắc đến Việt Nam, thế giới không chỉ biết đến chúng ta là một quốc gia đang phát triển năng động, mà còn là một quốc gia có năng lực công nghệ, có những doanh nghiệp công nghệ mạnh và có những sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam” – Tổng Bí thư khuyến khích và mong muốn.
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hội nghị Trung ương 2: Thống nhất cao về các nhóm vấn đề trọng tâm phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 23/3 đến ngày 25/3/2026, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tổ chức Hội nghị lần thứ hai để thảo luận, cho ý kiến và quyết định một số nội dung quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với nhiệm vụ triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp liên quan đến chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn 2026-2031 và những năm tiếp theo. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc hội nghị.
Trung ương đã tập trung xem xét, cho ý kiến về các nhóm vấn đề: (1) Về quy chế, quy định, chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; (2) Về tổng kết các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; (3) Về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính, đầu tư công, vay và trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026-2030, chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương; (4) Về công tác cán bộ, tổ chức bộ máy; (5) Xem xét, cho ý kiến một số nội dung quan trọng khác.
Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, tập trung bốn nguyên tắc cốt lõi sau:
– Tăng trưởng thực chất. Không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Bảo đảm tăng trưởng hôm nay không làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai, không làm suy giảm nguồn lực đối với thế hệ tương lai của đất nước.
– Kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
– Tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công – tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sử dụng nguồn lực phải gắn với nguyên tắc khoa học, hạch toán kinh tế xã hội rõ ràng, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục tình trạng dàn trải, kém hiệu quả, lãng phí. Các dự án được lựa chọn phải có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố các kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia.
– Tăng trưởng kinh tế cao phải bảo đảm phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Mọi chính sách, dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững.
Trên cơ sở “Bốn nguyên tắc” cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng “hai con số” phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị.
Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp:
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là “Phương thức quản trị địa phương mới”, nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
Do đó, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy; phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi; phân quyền phải đi liền với phân bố nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát; điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí tiêu cực:
Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển. Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới.
Về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới:
Đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thế thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau. Đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa “thế” và “lực”, giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Những nội dung được thảo luận và quyết nghị tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành những “hành lang pháp lý”, những “quy tắc vận hành”, những “nguyên tắc kỷ luật”, những “chuẩn mực hành động” thống nhất trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là nền tảng quan trọng để đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào cuộc sống, tạo động lực mới, khí thế mới và cơ sở vững chắc nhằm hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của dân tộc.
Tháng Công nhân năm 2026: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động
Với chủ đề “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, Tháng Công nhân năm 2026 sẽ diễn ra các chương trình đối thoại, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi người lao động…
Tổ chức Công đoàn Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu có từ 70% doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên triển khai ít nhất một hoạt động hưởng ứng Tháng Công nhân năm 2026. Đồng thời, khoảng 10% đoàn viên, người lao động tham gia đề xuất sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp nâng cao năng suất lao động. Trong đó ít nhất 30% sáng kiến được áp dụng vào thực tiễn tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Trong Tháng Công nhân, các cấp công đoàn tiếp tục triển khai nhiều hoạt động thiết thực, được đông đảo đoàn viên, người lao động đón nhận và sự quan tâm, ủng hộ của các cấp ủy đảng, chính quyền và người sử dụng lao động.
Chương trình “Đối thoại tháng 5” và diễn đàn “Đoàn viên góp ý xây dựng Công đoàn Việt Nam trong kỷ nguyên mới” được tổ chức nhằm tạo điều kiện cho người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và người sử dụng lao động tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với đoàn viên, người lao động. Diễn đàn còn là dịp để tập hợp ý kiến, kiến nghị của đoàn viên góp phần hoàn thiện Văn kiện Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam và Điều lệ Công đoàn (sửa đổi).
Bên cạnh đó, các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động được chú trọng. Công đoàn phối hợp tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho đoàn viên khó khăn, tổ chức gian hàng phúc lợi, bữa cơm công đoàn, cải thiện bữa ăn ca, khám sức khỏe định kỳ và tư vấn sức khỏe, tâm lý. Các ngày hội gia đình, văn hóa, thể thao cũng được tổ chức nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết, vui chơi giải trí cho người lao động.
Ngày hội “Kỹ năng lao động-Việc làm bền vững” được tổ chức nhằm tư vấn, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số, hỗ trợ người lao động tiếp cận các cơ hội việc làm ổn định, góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.
Tháng cao điểm thúc đẩy phong trào đổi mới sáng tạo, sáng kiến số và nâng cao năng suất lao động cũng được phát động rộng rãi. Công đoàn các cấp khuyến khích đoàn viên đề xuất sáng kiến, phối hợp với doanh nghiệp đánh giá, triển khai và biểu dương các sáng kiến tiêu biểu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở và giới thiệu phát triển đảng viên công nhân được đẩy mạnh. Nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động đoàn viên tham gia tổ chức công đoàn, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh được tổ chức, trong đó có các cuộc thi sáng tác video trên nền tảng số nhằm giới thiệu cuộc sống và quyền lợi của người lao động.
Kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 được tổ chức với nhiều hoạt động tuyên truyền về lịch sử, truyền thống đấu tranh của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam. Các cấp công đoàn cũng tập trung tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Đại hội Công đoàn Việt Nam, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Nguồn: Báo Chính phủ
II. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH VINATEX
Chỉ thị về tăng cường tiết kiệm trong sản xuất, kiểm soát vốn lưu động, công nợ và chủ động ứng phó với biến động của thị trường, khách hàng, nguồn vốn
Trong bối cảnh giá nguyên, nhiên liệu tiếp tục biến động, chi phí logistic tăng mạnh, tình hình thị trường còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó khăn, có thể xoay chiều rất nhanh. Do vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo đảm an toàn tài chính, giữ ổn định sản xuất, việc làm và năng lực cạnh tranh của Tập đoàn đặt ra rất cấp thiết.
Để tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và chủ động ứng phó với biến động của thị trường, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dệt May Việt Nam yêu cầu Đảng bộ Trung tâm điều hành Tập đoàn, Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Tập đoàn, các ban, đơn vị thuộc Công ty mẹ – Tập đoàn và người đại diện phần vốn của Tập đoàn tại doanh nghiệp có vốn góp của Tập đoàn nghiêm túc quán triệt và tổ chức thực hiện các nội dung sau:
* Tập trung rà soát, hoàn thiện các giải pháp tiết kiệm trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, nhất là khâu sử dụng nguyên liệu, vật tư, nhiên liệu, điện, nước, chi phí gia công, chi phí sửa chữa và các chi phí trực tiếp khác.
* Tăng cường quản trị định mức tiêu hao; gắn trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, bộ phận, dây chuyền sản xuất với kết quả tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sử dụng nguyên liệu.
* Chủ động rà soát cơ cấu sản phẩm, kế hoạch mua nguyên liệu, kế hoạch sản xuất, tiến độ giao hàng để giảm tồn đọng, giảm lãng phí do sản xuất không đồng bộ, mua vượt nhu cầu hoặc bố trí sản xuất chưa hợp lý.
* Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn hệ thống.
* Hạn chế tối đa việc tổ chức đoàn công tác đông người;
* Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức họp, giao ban, làm việc trực tuyến giữa Tập đoàn với các đơn vị và giữa các đơn vị với nhau; ưu tiên hình thức trực tuyến đối với các nội dung có thể xử lý hiệu quả qua môi trường số.
* Rà soát, kiểm soát chặt chẽ nhu cầu vốn lưu động; quản lý dòng tiền phù hợp với kế hoạch sản xuất, kinh doanh; sử dụng vốn đúng mục đích, đúng trọng tâm, bảo đảm an toàn, hiệu quả.
* Tăng cường quản lý hàng tồn kho theo từng nhóm nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm; xác định rõ hàng tồn kho chậm luân chuyển, tồn kho vượt định mức, tồn kho có nguy cơ giảm giá trị để có giải pháp xử lý kịp thời.
Đảng ủy Tập đoàn yêu cầu các đơn vị phải thường xuyên nắm chắc diễn biến của thị trường, khách hàng, đơn hàng, tiến độ giao hàng, khả năng thanh toán, nguy cơ giãn, hoãn, hủy đơn hàng; kịp thời xây dựng các phương án ứng phó phù hợp. Nắm chắc tình hình lao động, việc làm, thu nhập, tâm tư, nguyện vọng của người lao động; kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh, không để bị động, bất ngờ, ảnh hưởng đến ổn định sản xuất và quan hệ lao động.
SaigonTex & SaigonFabric 2026: Điểm hẹn công nghệ và quy mô hàng đầu ngành dệt may
Từ ngày 08 – 11/04/2026, Triển lãm Quốc tế Ngành Công nghiệp Dệt & May – Thiết bị, Nguyên phụ liệu & Vải (SaigonTex & SaigonFabric 2026) sẽ chính thức diễn ra tại Trung tâm Hội chợ & Triển lãm Sài Gòn (SECC) – 755 Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Mỹ, TP. Hồ Chí Minh. Với quy mô lớn và định hướng rõ nét về công nghệ, sự kiện tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những triển lãm chuyên ngành dệt may uy tín hàng đầu khu vực, được Hiệp hội Triển lãm Toàn cầu (UFI) công nhận.
SaigonTex & SaigonFabric 2026 dự kiến có diện tích trưng bày hơn 30.000 m², quy tụ trên 1.000 doanh nghiệp đến từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ như Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Ấn Độ… cùng sự góp mặt của đông đảo các thương hiệu, nhà sản xuất, nhà cung cấp máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu và chuyên gia đầu ngành. Năm nay, triển lãm dự kiến thu hút hơn 32.000 khách tham quan thương mại, trở thành điểm gặp gỡ quan trọng của cộng đồng dệt may toàn cầu tại Việt Nam. Tại đây, toàn bộ chuỗi giá trị của ngành được “tái hiện” từ máy móc thiết bị ngành dệt – may, nguyên liệu, sợi, vải, phụ liệu, đến các giải pháp hóa nhuộm, kiểm soát chất lượng và sản phẩm thời trang.
Không chỉ là nơi trưng bày sản phẩm, triển lãm còn đóng vai trò là nền tảng kết nối giao thương, giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường và nắm bắt xu hướng phát triển trong bối cảnh ngành dệt may đang chuyển mình mạnh mẽ.
Điểm nhấn nổi bật của SaigonTex & SaigonFabric 2026 nằm ở xu hướng công nghệ, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng rõ nét của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa trong sản xuất. Các giải pháp AI được giới thiệu tại triển lãm tập trung vào quản lý sản xuất, kiểm soát chất lượng và tối ưu chuỗi cung ứng, giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu. Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất không đường may, công nghệ 3D và các giải pháp định hình sản phẩm tiên tiến cũng được kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá trong thiết kế và sản xuất.
Mô hình “nhà máy thông minh” với mức độ tự động hóa cao tiếp tục là xu hướng chủ đạo, phản ánh quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong ngành dệt may. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn là yêu cầu tất yếu để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế.
Song song với công nghệ, yếu tố bền vững tiếp tục là trục xuyên suốt tại triển lãm năm nay. Các giải pháp vật liệu thân thiện môi trường, công nghệ tái chế và mô hình kinh tế tuần hoàn được giới thiệu rộng rãi, hướng đến xây dựng chuỗi cung ứng xanh. Nhiều doanh nghiệp mang đến các dòng sản phẩm vải, phụ kiện may mặc đáp ứng tiêu chuẩn ESG và các yêu cầu khắt khe từ các thương hiệu quốc tế. Điều này cho thấy xu hướng “xanh hóa” không còn là lựa chọn mà đã trở thành tiêu chuẩn bắt buộc để ngành dệt may tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh khu trưng bày, SaigonTex & SaigonFabric 2026 còn tổ chức nhiều hoạt động chuyên sâu nhằm gia tăng giá trị cho doanh nghiệp tham gia. Tại chuỗi Hội thảo, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX), Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) và Hiệp hội Dệt May Thời Trang TP. HCM (AGTEX) sẽ có các buổi tọa đàm, tập trung vào xu hướng công nghệ, thị trường và chiến lược phát triển bền vững cho ngành dệt may.
Ngoài ra, Chương trình PPP (Product Presentation Program) tạo điều kiện cho doanh nghiệp giới thiệu trực tiếp các giải pháp công nghệ mới, từ AI, tự động hóa đến sản xuất xanh. Đặc biệt, chương trình Fashion Parade mang đến góc nhìn trực quan về sự kết hợp giữa công nghệ, vật liệu và thiết kế, khi các bộ sưu tập được trình diễn dựa trên chính nguyên liệu và công nghệ của các đơn vị triển lãm.
Cùng với đó, khu vực “Made in Vietnam Hub” và không gian dành cho các nhà sản xuất nội địa giúp quảng bá năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam, mở ra cơ hội kết nối với các nhà mua hàng quốc tế. Khu VIP Lounge cũng được thiết kế như một không gian chuyên nghiệp dành riêng cho các đối tác chiến lược gặp gỡ và trao đổi kinh doanh.
Trong bối cảnh ngành dệt may toàn cầu đang chịu áp lực chuyển đổi về công nghệ và phát triển bền vững, SaigonTex & SaigonFabric 2026 được xem là cơ hội quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế cập nhật xu hướng, tiếp cận công nghệ mới và mở rộng mạng lưới hợp tác. Với quy mô lớn, nội dung chuyên sâu và định hướng rõ ràng, triển lãm không chỉ là sự kiện thương mại mà còn là “bản đồ xu hướng” của ngành dệt may trong giai đoạn tới. Đây sẽ là nền tảng để các doanh nghiệp định hình chiến lược phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chủ tịch HĐQT Vinatex tham dự và trình bày tại Hội nghị COTTON USA™ Outlook 2026 tại Hong Kong
Ngày 24/3/2026 tại Hong Kong (Trung Quốc), TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) đã tham dự và trình bày tham luận tại Hội nghị Quốc tế “COTTON USA™ Outlook: Sustainable Sourcing, Strategic Growth” do Hiệp hội bông Mỹ (Cotton Council International – CCI) tổ chức.
Hội nghị quy tụ khoảng 120 đại biểu là các doanh nghiệp sợi, dệt, may, các thương hiệu quốc tế, văn phòng sourcing tại Trung Quốc, Hong Kong và khu vực châu Á, tập trung trao đổi về xu hướng thị trường bông thế giới, yêu cầu phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và định hướng chuỗi cung ứng dệt may trong giai đoạn mới.
Tại Hội nghị, TS. Lê Tiến Trường trình bày tham luận với chủ đề “Vietnam Textile and Garment Industry”, trong đó giới thiệu tổng quan ngành Dệt May Việt Nam, thực trạng ngành sợi, vị thế của Vinatex trong chuỗi cung ứng dệt may, đặc biệt là vai trò của ngành sợi Vinatex và định hướng phát triển trong bối cảnh thị trường toàn cầu có nhiều biến động. Theo báo cáo, ngành Dệt May Việt Nam hiện có khoảng 18,2 nghìn doanh nghiệp với gần 1,8 triệu lao động trực tiếp chính thức, duy trì vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu dệt may và là nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất vào thị trường Hoa Kỳ. Trong lĩnh vực sợi, Việt Nam là một trong những trung tâm sản xuất lớn tại châu Á với công suất khoảng 10–12 triệu cọc sợi, sản lượng 2,0–2,3 triệu tấn mỗi năm; riêng hệ thống sợi của Vinatex (bao gồm cả các đơn vị liên kết) có khoảng 1 triệu cọc sợi, sản lượng gần 190 nghìn tấn/năm, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của nhiều thương hiệu toàn cầu.
Phân tích bối cảnh thị trường, Chủ tịch HĐQT Vinatex nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục ở mức thấp, nhu cầu tiêu dùng dệt may phục hồi chậm, trong khi rủi ro về chính sách thương mại, thuế quan, chi phí năng lượng và logistics gia tăng đang tạo áp lực lớn đối với ngành. Tuy nhiên, yêu cầu về minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững cũng đang mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp có khả năng tuân thủ, nền tảng quản trị và công nghệ tốt.
Sau phần trình bày, hội nghị đã thực hiện khảo sát trực tiếp về các yếu tố có thể ảnh hưởng lớn nhất tới ngành dệt may Việt Nam trong 3–5 năm tới. Trao đổi về kết quả khảo sát, TS. Lê Tiến Trường cho rằng chính sách thương mại, tài chính và thuế quan sẽ là yếu tố có tác động mạnh nhất, do các quy định hiện nay được áp dụng khác nhau giữa các quốc gia, có thể tạo ra lợi thế hoặc bất lợi đáng kể đối với từng nước. Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ thương mại và nguy cơ xung đột thương mại gia tăng, nhu cầu tiêu dùng dệt may toàn cầu có thể suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu của Việt Nam. Đối với các yếu tố như cạnh tranh khu vực, hạ tầng logistics hay yêu cầu ESG, Chủ tịch HĐQT Vinatex nhận định đây là những xu hướng mang tính toàn cầu, tất cả các quốc gia đều phải thích ứng. Khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn phát triển bền vững sẽ là điều kiện quyết định để doanh nghiệp và ngành dệt may giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng quốc tế.
Trong khuôn khổ Hội nghị, TS. Lê Tiến Trường cũng tham gia phiên thảo luận cùng đại diện các thương hiệu, doanh nghiệp dệt may và các nhà cung cấp bông quốc tế về các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh thị trường năm 2026 dự báo tiếp tục nhiều biến động.
Nhiệm vụ trọng tâm tháng 4 năm 2026
- Kỷ niệm 51 năm ngày Giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
- Chỉ đạo công tác tổ chức Đại hội đồng cổ đông năm 2026 tại các doanh nghiệp thành viên.
- Thi đua lao động sáng tạo chào mừng 31 năm Ngày thành lập Tập đoàn Dệt May Việt Nam (1995-2026) và hướng tới Tháng Công nhân năm 2026.
III. VĂN BẢN, CHÍNH SÁCH MỚI
– Chỉ thị 501-CT/ĐUTĐ, ngày 26/3/2026 của Đảng ủy Tập đoàn Dệt May Việt Nam về tăng cường tiết kiệm trong sản xuất, kiểm soát vốn lưu động, công nợ và chủ động ứng phó với biến động của thị trường, khách hàng, nguồn vốn.
– Văn bản số 1283-CV/VPTW, ngày 27/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng gửi Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng khóa XIV.
– Kết luận 14-KL/TW, ngày 20/3/2026 của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới.
– Thông báo kết luận số 22-TB/CQTTBCĐ, ngày 20/3/2026 của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp chuyên đề về Công nghệ chiến lược của Thường trực Ban Chỉ đạo.
– Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2026 của Bộ Chính trị về kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị ở Trung ương năm 2025
– Thông báo số 20-TB/CQTTBCĐ ngày 16/3/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo
– Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
– Quyết định số 09-QĐ/TW ngày 02/3/2026 của Ban Bí thư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 128-QĐ/TW, ngày 14/12/2004 của Ban Bí thư khoá IX về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Đảng, Mặt trận và các đoàn thể
– Quy định số 08-QĐ/TW ngày 02/3/2026 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam
– Quyết định số 07-QĐ/TW ngày 25/02/2026 của Bộ Chính trị thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam
– Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
– Chương trình số 09-Ctr/ĐU ngày 19/3/2026 của Đảng ủy Chính phủ về Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY VINATEX




