Doanh nghiệp dệt may “bẻ lái” thị trường bằng linh hoạt ra quyết định, chấp nhận rủi ro có cân nhắc

Thứ Hai, 29/12/2025, 08:40

11 tháng năm 2025 khép lại với những gam màu đan xen của nền kinh tế, vừa lan tỏa động lực, vừa buộc phải đối diện các rủi ro mới nổi, đòi hỏi sự chủ động, năng lực ứng phó hơn. Ngành Dệt May Việt Nam tiếp tục có những giải pháp chiến lược để ứng phó với biến động thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Xoay quanh vấn đề này, Đặc san Dệt May và Thời trang Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex)

cef86f79ed9e0074d7f23bae3321d782c3ef51545bd12d DQl98z

* Trong bối cảnh tình hình địa chính trị toàn cầu nhiều biến động, ngành Dệt May Việt Nam đã và đang linh hoạt, thích ứng thế nào để xuất khẩu sản phẩm, thưa ông?

– Bối cảnh chung năm nay là thị trường biến động rất nhiều so với những năm trước do chính sách thuế đối ứng mới và sự liên tục thay đổi mức thuế lên các quốc gia khác nhau, dẫn đến sự dịch chuyển dòng hàng cũng thường xuyên đảo chiều. Đơn hàng trở nên nhỏ hơn, ngắn hơn và liên tục biến động…

Tuy nhiên, năm 2025 là một năm tiếp tục  “vượt khó” thành công của ngành dệt may khi kim ngạch xuất khẩu ước đạt 46 tỷ USD, tăng khoảng 5% so với năm 2024. Cơ bản kiểm soát được tình hình biến động thuế quan toàn cầu, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả. Hiện nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã hiện diện tại 138 thị trường trên thế giới. Trong đó, Hoa Kỳ vẫn là thị trường chủ lực với kim ngạch ước đạt 18,6 tỷ USD (tăng 11,75%), và quần áo vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ đạo (ước tính chiếm khoảng 38 tỷ USD/46 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu dự kiến).

Đây là kết quả của cả một quá trình điều hành hết sức linh hoạt trong năm 2025 khi chúng ta tận dụng được thời cơ từ những khoảng thời gian chờ để áp dụng mức thuế mới trong 90 ngày đầu tiên. Theo đó, từ ngày 02/4 đến 08/8, chúng ta đã gia tăng được kim ngạch xuất khẩu rất lớn trong giai đoạn này với tốc độ tăng trưởng đến gần 15%. Và quá trình điều hành của năm 2025 cho thấy một bài học lớn, đó là khi địa chính trị địa kinh tế của thế giới có nhiều biến động thì vai trò điều hành chung của các doanh nghiệp, tính linh hoạt, ra quyết định nhanh và chấp nhận những rủi ro có cân nhắc ở các đơn vị là yếu tố quan trọng quyết định thành bại. Cùng với đó là sự thấu hiểu chung của người lao động,của cả các bên liên quan trong xã hội thì mới có thể tạo ra được kết quả đó…

Cũng trong năm 2025, bên cạnh việc giữ thị phần ở thị trường Mỹ, chúng ta đã đa dạng xuất khẩu sang nhiều thị trường khác, như châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Bài học của quá trình này chính là chúng ta vừa đa dạng hoá thị trường, vừa tiếp cận rất nhanh và có những quyết sách kịp thời khi chính sách thuế quan của các quốc gia có nhiều biến động và tận dụng những khoảng hẹp rất ngắn của thời cơ hoãn áp dụng thuế đối ứng.

MNG07852

* Hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu dệt may trong điều kiện có rất nhiều hiệp định thương mại tự do và cũng phải thích ứng với nhiều quy tắc yêu cầu xuất xứ nghiêm ngặt, ngành Dệt May Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để từng bước tự chủ cung ứng nguyên vật liệu. Đến thời điểm này, kết quả của việc tự chủ nguồn nguyên vật liệu dệt may đã đạt đến mức nào, thưa ông?

Theo báo cáo ngày 02/10 của Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương, trong các nhóm ngành xuất khẩu của Việt Nam thì dệt may là một trong những ngành có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất, đạt mức 45-48% trong khi ngành điện tử khoảng 15-18%… Và giá trị gia tăng của ngành Dệt May Việt Nam cũng thuộc nhóm cao nhất trong các ngành chế biến chế tạo với khoảng 40% giá trị gia tăng. Đây là cả một quá trình chúng ta cải thiện nhanh và tương đối lớn về quy mô, nâng tỷ lệ nội địa hóa lên và nếu xét trong top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới thì mức độ chủ động nguồn nguyên vật liệu của Dệt May Việt Nam đứng thứ 3 chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ.

Quá trình này bao gồm cả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong nước và xu hướng dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó các doanh nghiệp FDI quy mô lớn vào đầu tư sản xuất nguyên liệu hình thành chuỗi cung cấp khép kín ở Việt Nam. Cùng với đó, chúng ta cũng đã lựa chọn một phân khúc mà không phải là phổ thông giá rẻ, chúng ta thuộc phân khúc trung-cao, và khu vực này đòi hỏi tính kỹ lưỡng và xuất xứ chặt chẽ của hàng hóa, để tuy bắt đầu sau về sản xuất nguyên liệu nhưng chúng ta đã đi ngay vào những sản phẩm đảm bảo quy tắc xuất xứ và định vị ở mức trung cao, hướng tới mức cao là những khu vực ít bị nhảy cảm hơn về giá và chính sách thuế.

DSC 2582 scaled

* Với Tập đoàn Dệt May Việt Nam, ông có thể chia sẻ câu chuyện tự chủ nguồn nguyên vật liệu với chuỗi sản xuất trong toàn hệ thống?

Vinatex là một doanh nghiệp dệt may với đặc thù là có chuỗi cung ứng sợi- dệt- may tương đối hoàn thiện do lịch sử của các doanh nghiệp thành viên có từ lâu đời đã được cấu trúc để sản xuất các loại mặt hàng này. Hiện nay, trong Tập đoàn Dệt May Việt Nam bên cạnh hoạt động chung của Tập đoàn và từng doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình, thì chúng tôi có quản trị theo 2 mảng sản xuất kinh doanh chính là sợi và may. Trong đó, sản xuất sợi, vải có liên kết cung ứng chặt chẽ với ngành may để toàn bộ sản phẩm về cơ bản là sử dụng nguyên vật liệu trong hệ thống. Tuy nhiên, thực tế thì quy mô sản xuất nguyên liệu vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với quy mô ngành may của Tập đoàn nên vẫn phải đặt ra yêu cầu mở rộng ngành sản xuất nguyên phụ liệu cho sản xuất.

Việc mở rộng quy mô sản xuất nguyên phụ liệu đòi hỏi cả 2 yếu tố: Yếu tố thứ nhất là có sự chấp thuận của chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó người mua và người thiết kế chấp thuận loại nguyên liệu của chúng ta đưa vào chuỗi. Đây là một quá trình diễn ra rất dài, từ sản xuất thử nghiệm, từ những đơn hàng nhỏ lẻ tiến tới những đơn hàng quy mô lớn và dài hạn của những năm tiếp theo. Điểm khác biệt của doanh nghiệp Việt Nam là chúng ta chưa có vị trí cố định trong chuỗi cung ứng về phương diện nguyên liệu, khác với doanh nghiệp FDI là họ đi từ các quốc gia khác sang Việt Nam nhưng đã có vị trí trong chuỗi cung ứng của Walmart, Target, Uniqlo hay của hệ thống thời trang nào đó. Và như vậy, họ chỉ cần ổn định sản xuất và đầu tư xong là họ vận hành với quy mô lớn cho công suất đầu tư. Nhưng ở Việt Nam và riêng với Vinatex thì phải làm từng bước, đó là, chúng ta gia nhập chuỗi cung ứng phải bắt đầu từ những đơn hàng nhỏ, từ những mẫu mà chào hàng cho năm sau mà có thể chưa nhìn thấy kết quả của sản xuất kinh doanh cụ thể.

Thứ hai, cũng phải cân nhắc câu chuyện tài chính khi đầu tư sản xuất nguyên vật liệu bởi đây là ngành đòi hỏi quy mô tài chính rất lớn. Doanh nghiệp cần tính toán, cân đối giữa sức khỏe tài chính, lợi nhuận làm ra với những chi phí trong nghiên cứu phát triển để tránh tình trạng doanh nghiệp định hướng chiến lược tốt, phát triển tốt, nhưng vì quy mô đầu tư chưa hợp lý, mất cân đối tài chính khiến không đủ lực để đi đường dài…

DSC 4581

* Thế còn xu hướng xanh hóa dệt may đến thời điểm này đang diễn ra thế nào, thưa ông?

Thực tế cho thấy, đến thời điểm này, những quy định về xanh tại thị trường lớn nhất của Dệt May Việt Nam là Mỹ đều chưa rõ ràng. Mỹ có nhiều quyết định chậm lại câu chuyện phát triển “xanh” và họ đã có những bước lùi nhất định. Đối với châu Âu, do tính chất của thị trường và đây cũng là các quốc gia sáng kiến ra câu chuyện về sản xuất xanh nên họ tiếp tục duy trì, nhưng lại có sự trì hoãn về thời gian áp dụng. Và phát triển xanh vẫn là xu hướng, còn hiện nay có thể nhìn nhận chưa ảnh hưởng trực tiếp ngay đến sản xuất kinh doanh.

Thực tế là trong 2 năm gần đây, khi thị trường gặp nhiều khó khăn thì các sản phẩm xanh có mức độ tăng trưởng không cao. Đứng trên bình diện tổng thể cả ngành, có thể có tăng trưởng sản phẩm xanh ở một vài doanh nghiệp, còn đa số thì chưa có nhiều biến chuyển, kể cả những sản phẩm sợi từ nguyên liệu tái chế, sản phẩm quần áo từ nguyên liệu có tỷ lệ tái chế cao đều đang không tăng với lý do là hiện nay các sản phẩm tái chế đều đang có giá bán rất cao so với sản phẩm thông thường. Chính vì thế, trong điều kiện kinh tế còn khó khăn và nhu cầu chưa phục hồi thì những xu thế, sản phẩm xanh hóa chưa được triển khai một cách quyết liệt.

Chúng ta xác định rằng, trước sau gì thì hướng đi chung của cả thế giới cũng sẽ là xanh hoá, tuy nhiên các bước đi cần có lộ trình khác nhau, với mục tiêu đề ra là thiết lập các thay đổi mới trong ngành công nghiệp dệt may và thời trang nhằm giảm tác động đến môi trường. Lộ trình xanh hóa đi theo công thức 3R: Reduce – Reuse – Recycle (Giảm thiểu – Tái sử dụng – Tái chế). Tức là giảm trước, rồi sử dụng lại những sản phẩm còn tốt và cuối cùng mới là tái chế. Có thể nói rằng, việc giảm dần sẽ ảnh hưởng rất lớn đến số lượng đơn hàng. Những doanh nghiệp dệt may phải có năng lực, chất lượng sản xuất rất cao mới có khả năng cạnh tranh trong điều kiện tổng số lượng đơn hàng của thế giới giảm. Mục tiêu chung của 3R này là giảm phát thải, giảm nguy hại cho môi trường nhưng 2 giải pháp đầu tiên rõ ràng là rẻ tiền hơn và đánh thẳng vào thứ mà người tiêu dùng trong dài hạn sẽ hình thành, đó là phong cách tiêu dùng, văn hóa tiêu dùng và hình thành thói quen tiết kiệm thực sự để bảo vệ môi trường. Trong khi đó, giải pháp 3 – Recycle sẽ là hoạt động có chi phí tốn kém nhất. Tái chế chính là sử dụng những nguyên liệu không còn được sử dụng và bị thải ra môi trường để tạo nên chất liệu vải, rồi từ đó may thành những trang phục vừa đảm bảo yếu tố thẩm mỹ lại vừa thân thiện với môi trường mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người mặc. Yếu tố này đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực rất lớn trong việc đưa ra ý tưởng, nghiên cứu cũng như sáng chế công nghệ xử lý chất thải thành sợi vải mà không tiêu tốn nhiều năng lượng từ thiên nhiên như: nước, điện… Với doanh nghiệp Việt, xu hướng xanh hóa đặt ra yêu cầu phải phát triển vật liệu sinh thái, tối ưu quy trình nhuộm, giảm phát thải, ứng dụng thiết kế tuần hoàn…

* Xin trân trọng cảm ơn ông!

Đón đọc Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 12/2025. Chi tiết tại đây!