Từ mô hình tăng trưởng kinh tế mới ở Việt Nam, suy nghĩ về mô hình tăng trưởng tại Vinatex

Thứ Sáu, 06/02/2026, 13:48

Kinh tế thế giới và khu vực đang có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường, Việt Nam đứng trước yêu cầu phải đổi mới mô hình tăng trưởng để đáp ứng những yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới. Trước những thay đổi mạnh mẽ của toàn cầu, sự cạnh tranh gay gắt trong chuỗi giá trị, tác động của cuộc cách mạng lần thứ 4, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đã khiến mô hình tăng trưởng truyền thống dựa vào vốn và lao động giá rẻ bộc lộ những hạn chế nhất định. Trước bối cảnh đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ xác lập mô hình tăng tưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

quan tri doanh nghiep

Xác định các động lực tăng trưởng mới

Mô hình tăng trưởng mới được xác lập với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học công nghệ là trọng tâm để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống.

Cơ cấu lại nền kinh tế được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Nhà nước tập trung nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế. Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, tăng chi cho đầu tư phát triển, tăng cường hiệu quả đầu tư công. Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng; đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí, vật liệu mới, công nghệ số và sinh học. Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp mới nổi như chip bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến và năng lượng tái tạo. Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị; phát triển các vùng sản xuất lớn và áp dụng mạnh mẽ công nghệ, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, giá trị gia tăng cao. Khu vực dịch vụ cũng được yêu cầu chuyển dịch theo hướng hiện đại, chú trọng các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ thương mại logistics, các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do; các trung tâm logistics lớn.

Văn kiện nhấn mạnh mô hình tăng trưởng mới cũng cần phát huy vai trò của các thành phần kinh tế. Kinh tế nhà nước được yêu cầu giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm các cân đối lớn, dẫn dắt và định hướng chiến lược; phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; khu vực FDI được thu hút có chọn lọc, tập trung chủ yếu cho phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và phát thải thấp, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Quan tâm phát triển các tập đoàn quy mô lớn trong nước, cả nhà nước và tư nhân, được định hướng nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh quốc tế.

Trong mô hình kinh tế mới của Việt Nam, ngành dệt may giữ vị trí là một ngành công nghiệp truyền thống, không còn dẫn đầu về tăng trưởng nhưng vẫn là ngành có đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước và giải quyết việc làm cho người lao động. Với mô hình kinh tế mới – nơi khoa học công nghệ, kinh tế số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất được lấy làm trọng tâm thì ngành dệt may cần phải được tái cơ cấu mạnh mẽ, dịch chuyển từ sản xuất quy mô lớn dựa vào lao động giản đơn, giá rẻ sang sản xuất tinh gọn, quản trị thông minh, tự động hóa cao, hàm lượng công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu.

MNG07852 scaled

Thị trường dệt may thế giới 2026: Phục hồi trong tái cấu trúc

Với vị trí là một ngành công nghiệp truyền thống đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi để phù hợp mô hình tăng trưởng kinh tế mới, ngành Dệt May Việt Nam bước vào năm 2026 với những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen.

Thị trường dệt may thế giới năm 2026 được dự báo bước vào giai đoạn phục hồi chậm nhưng bền vững với mức tăng khoảng 3–3,2%. Mỹ duy trì vai trò động lực tăng trưởng khi sức mua được cải thiện trở lại, dù giá nhập khẩu chỉ nhích tăng nhẹ quanh mức lạm phát và có dấu hiệu cạnh tranh giá mạnh hơn kể từ cuối quý III/2025. Đáng chú ý, hành vi tiêu dùng phân hóa ngày càng rõ nét: nhóm thu nhập trung bình hạ cấp tiêu dùng sang các sản phẩm giảm giá và hàng cơ bản giá trị cao, trong khi nhóm thu nhập trung bình cao vẫn duy trì nhu cầu với các thương hiệu cận cao cấp và thậm chí dịch chuyển sang các nhãn hàng cao cấp hơn. Điều này khiến phân khúc trung – cận cao cấp rơi vào trạng thái “rỗng”: vừa không đủ rẻ để cạnh tranh bằng giá, vừa không đủ sức mạnh thương hiệu để giữ mức định giá cao. EU tiếp tục phục hồi nhưng chậm, đơn giá chịu áp lực giảm do cạnh tranh từ các nguồn cung giá thấp, đặc biệt là Bangladesh và Ấn Độ. Trong khi đó, chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn trong quá trình tái cân bằng khi nhập khẩu nguyên liệu dệt may của Trung Quốc giảm mạnh vì nhu cầu yếu, còn các quốc gia sản xuất như Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam duy trì hoặc tăng nhẹ nhập khẩu để phục vụ sản xuất. Thuế đối ứng của Hoa Kỳ là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến thương mại toàn cầu. Việc điều chỉnh thuế lên mức bình quân gần 20% tạo ra thay đổi lớn trong nhập khẩu, định hình lại dòng chảy thương mại, các doanh nghiệp phải điều chỉnh chuỗi cung ứng và ưu tiên đa nguồn cung. Nhìn chung, 2026 không phải năm của ‘bùng nổ” mà là năm của tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mặc dù đối mặt nhiều biến động, thị trường năm 2026 vẫn mở ra cho ngành Dệt May Việt Nam những cơ hội quan trọng giúp duy trì được vai trò trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự phục hồi của Mỹ và EU tuy chậm, tăng trưởng ổn định của Nhật Bản mang lại nền tảng cầu tương đối vững. Việt Nam được hưởng lợi từ vị trí “trung tính về thuế” với mức bình quân khoảng 20% (cao hơn một số nước trong khu vực nhưng thấp hơn nhiều so với mức thuế tạm thời hiện nay của Trung Quốc, Ấn Độ). Điều này tạo cho Việt Nam cơ hội duy trì là nguồn cung ổn định cho các nhà bán lẻ Mỹ, đồng thời có thể tận dụng một phần sự dịch chuyển hàng hóa ra khỏi Trung Quốc. Bên cạnh đó, thị trường Mỹ và EU luôn ưu tiên các nhà cung cấp có tính minh bạch cao để đáp ứng các yêu cầu mới về bền vững và truy xuất, doanh nghiệp Việt Nam có dư địa mở rộng đáng kể.

Xu hướng tăng trưởng các dòng hàng như thời trang thể thao – giải trí (athleisure), trang phục thể thao chuyên dụng (activewear) và đồ dã ngoại – ngoài trời (outdoor) nhờ tính linh hoạt, tiện dụng và phù hợp lối sống mới, cộng thêm kỳ vọng nhu cầu tăng trưởng năm 2026 do sự kiện thể thao World Cup cũng mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Đây là dòng hàng có biên độ ổn định và ít chịu tác động của các rào cản thuế quan hơn so với các dòng sản phẩm thời trang nhanh hoặc trung cấp.

Diễn biến tích cực từ thị trường nguyên phụ liệu như giá bông và xơ tổng hợp (PSF) được dự báo ổn định, không có dư địa tăng mạnh trong năm 2026, là cơ sở tốt để doanh nghiệp chủ động lên kế hoạch giá vốn và tồn kho một cách thận trọng, nâng biên lợi nhuận. Nhóm xơ cellulosic nhân tạo như viscose, modal hay lyocell tiếp tục tăng trưởng ổn định ở phân khúc trung – cao cấp nhờ đặc tính tự nhiên, thoáng nhẹ và phù hợp với xu hướng phát triển bền vững. Đây là phân khúc có khả năng duy trì sự tăng trưởng trong 2026 vì nhu cầu về chất liệu thân thiện môi trường ngày càng gia tăng. Điều này phù hợp với chiến lược của ngành Dệt May Việt Nam: đa dạng hóa sản phẩm, tăng giá trị gia tăng; phù hợp với xu hướng xanh tại các thị trường Mỹ và EU – các thị trường chủ lực của dệt may Việt Nam. Nhu cầu tăng nhanh đối với vải kỹ thuật, vải tái chế và vải đa thành phần cũng mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam gia tăng giá trị gia tăng và dịch chuyển lên các phân khúc bền vững.

Bên cạnh những thuận lợi thì thị trường cũng đem lại cho ngành Dệt May Việt Nam không ít những khó khăn, thách thức. Dù dự báo nhu cầu toàn cầu tăng khoảng 3% nhưng mức tăng này phản ánh trạng thái tăng trưởng theo hướng giữ quy mô hơn là mở rộng ồ ạt. Nhu cầu thế giới phục hồi chậm, Mỹ và EU phụ thuộc vào tiến trình kiểm soát lạm phát và diễn biến quan hệ Mỹ – Trung khiến khách hàng rút ngắn chu kỳ đặt hàng, thu hẹp danh mục và ưu tiên các dòng sản phẩm thiết yếu hoặc có giá trị sử dụng cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch dài hạn.

Untitled Panorama 1 scaled

Tác động trực tiếp từ chính sách thuế của Hoa Kỳ gây áp lực lên chi phí. Mức thuế bình quân gần 20% đã buộc doanh nghiệp phải chia sẻ một phần cho khách hàng, làm tăng giá bán lẻ và kìm hãm sức mua. Là một ngành phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải gánh chịu ảnh hưởng không nhỏ.

Cạnh tranh ngày càng gay gắt ở phân khúc trung cấp và hàng cơ bản. Các quốc gia như Bangladesh, Campuchia hay Indonesia tiếp tục mở rộng sản xuất nhờ chi phí lao động thấp, khiến doanh nghiệp Việt Nam khó duy trì lợi thế về giá. Tại thị trường EU và Nhật Bản, dòng hàng chuyển hướng từ Trung Quốc và Ấn Độ làm gia tăng áp lực giảm giá, ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận ngành Dệt May Việt Nam vốn đã mỏng.

Rủi ro cũng đến khi thị trường Mỹ – nơi chiếm thị phần lớn nhất của xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng đang có sự thay đổi mạnh trong phân hóa tiêu dùng. Khi phân khúc trung – cận cao cấp rơi vào trạng thái “rỗng” về nhu cầu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nguy cơ thiếu đơn hàng hoặc phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về giá. Nếu không tái định vị các dòng sản phẩm có sự ổn định cao hơn thì doanh nghiệp dễ bị lệ thuộc vào phân khúc đang bị thu hẹp.

Trong bối cảnh thị trường dệt may còn chịu nhiều rủi ro từ chính sách, các doanh nghiệp còn ít dư địa để mở rộng, thay vào đó cần tập trung chiều sâu, tăng năng suất, nâng giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị lao động và tối ưu vận hành chi phí, tăng khả năng chống chịu những rủi ro từ biến động thị trường và chính sách, đây là thách thức lớn mà các doanh nghiệp dệt may phải vượt qua để duy trì vị thế và tăng trưởng bền vững.

Thuế đối ứng không chỉ làm thay đổi giá nhập khẩu tại Mỹ mà còn lan tỏa chi phí đến các khâu trung gian như sợi, vải, phụ liệu, trong khi Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào vào nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu. Yêu cầu ngày càng khắt khe về xuất xứ và truy xuất nguồn gốc từ Mỹ và EU, sự phụ thuộc của Việt Nam vào nguồn vải nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc tiếp tục là thách thức lớn. Việc mở rộng năng lực dệt – nhuộm cần có quá trình lâu dài và nguồn lực lớn, gây áp lực cho các doanh nghiệp dệt may.

Nhìn chung, năm 2026 không phải là năm tăng trưởng mạnh của ngành dệt may toàn cầu mà là năm tái cấu trúc và củng cố nội lực. Trong bối cảnh cầu phục hồi chậm, rủi ro chính sách cao, hành vi tiêu dùng thay đổi, cạnh tranh gay gắt, dư địa phát triển không đến từ mở rộng quy mô mà từ khả năng thích ứng, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh bên vững của doanh nghiệp.

Suy nghĩ về mô hình tăng trưởng của Vinatex

Trên tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: tăng trưởng trên cơ sở năng suất, hiệu quả và giá trị gia tăng, tạo ra phương thức sản xuất mới, trong đó có trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, chuyển đổi năng lượng và cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực; xuất phát từ đặc điểm của thị trường và xu hướng phát triển của ngành dệt may toàn cầu, cùng yêu cầu tái cấu trúc, sắp xếp chuỗi cung ứng mới, Vinatex cần xác định các mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới là:

         – Tăng trưởng thặng dư xuất nhập khẩu, trong đó trọng tâm là tạo ra nhiều giá trị ở trong nước bao gồm cả nguyên liệu và dịch vụ (thiết kế, logistics).

         – Tăng trưởng TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) thông qua cơ cấu sản phẩm giá trị cao hơn, nhờ đó doanh thu và hiệu quả tăng nhanh mà không cần dựa vào tăng trưởng tương ứng về vốn và lao động.

         – Tăng trưởng thu nhập người lao động nhanh, gia nhập nhóm ngành có thu nhập trung bình cao, cạnh tranh được với các ngành khác trong nền kinh tế.

mo hinh tang truong scaled

Giải pháp cho các doanh nghiệp

Để hiện thực hóa các mục tiêu nói trên, Vinatex cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Đa dạng hóa sản phẩm, thị trường và chuỗi cung ứng:

Đa dạng hóa sản phẩm cơ bản chất lượng cao, nâng giá trị gia tăng. Đa dạng hóa thị trường, tăng thị trường ngách, nhắm vào các thị trường nhỏ, thu nhập cao để giảm rủi ro phụ thuộc vào một vài thị trường lớn như Mỹ, EU do biến động chính sách, thuế quan,.. Các thị trường có thu nhập cao thường ưu tiên sản phẩm có thiết kế riêng, tiêu chuẩn khắt khe, đơn hàng nhỏ, điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển đổi từ mô hình CM sang FOB, ODM, nâng tỉ suất lợi nhuận, giảm cạnh tranh về giá. Đa dạng hóa nguồn cung ứng nguyên liệu, tránh phụ thuộc quá lớn vào một thị trường. Tăng cường tự chủ nguồn nguyên liệu, mở rộng năng lực dệt – nhuộm trong nước.

Đẩy mạnh chuyển đổi số và sản xuất thông minh

Một trong những xu hướng chủ đạo của ngành là áp dụng công nghệ số và tự động hóa trong sản xuất. Thay vì chỉ đầu tư rời rạc vào máy móc hay tự động hóa từng khâu, các doanh nghiệp cần tiếp cận chuyển đổi số một cách tổng thể, gắn kết giữa sản xuất, quản trị và thị trường. Việc ứng dụng các nền tảng quản trị doanh nghiệp như ERP, cùng với các công cụ số khác, giúp chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch dữ liệu, nâng cao năng lực lập kế hoạch, quản lý đơn hàng, kiểm soát tồn kho và nâng cao hiệu quả ra quyết định trong toàn bộ chuỗi giá trị.

1711841101568

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, tiết kiệm năng lượng, tuân thủ bền vững

Khi thị trường toàn cầu ngày càng quan tâm đến môi trường và trách nhiệm xã hội, chuyển đổi xanh là yếu tố tất yếu đối với tất cả các doanh nghiệp dệt may. Doanh nghiệp cần gia tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo và áp dụng các giải pháp giảm tiêu hao năng lượng trong các công đoạn tiêu thụ nhiều điện, đồng thời rà soát mô hình tiêu thụ năng lượng khi Việt Nam áp dụng giá điện hai thành phần từ năm 2026. Việc cải tiến dây chuyền sản xuất, sử dụng máy móc hiệu suất cao và năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải carbon, tối ưu chi phí vận hành và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG. Đồng thời, doanh nghiệp cần tăng tỉ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế, vật liệu xanh và hóa chất đạt chuẩn, từ đó giảm lượng rác thải, bảo vệ môi trường và nâng cao uy tín sản phẩm.

Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và sản xuất tự động hóa cao

Trong bối cảnh ngành dệt may chuyển mạnh sang chuyển đổi số và sản xuất tự động hóa, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố then chốt để doanh nghiệp duy trì cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chuẩn bị lực lượng cán bộ có khả năng xây dựng cơ sở dữ liệu, đọc hiểu, phân tích dữ liệu, vận hành công nghệ, quản lý chuỗi cung ứng, chuyển từ quản lý cảm tính sang quản trị dựa trên dữ liệu. Do vậy, doanh nghiệp cần xây dựng các chương trình đào tạo nội bộ và hợp tác với các trung tâm, trường đại học để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và khả năng thích ứng nhanh với điều kiện mới. Đẩy mạnh văn hóa học tập liên tục và đổi mới sáng tạo cùng với chế độ ngãi ngộ tướng xứng với đóng góp. Mục tiêu cuối cùng là hình thành đội ngũ cán bộ có khả năng dẫn dắt doanh nghiệp trong môi trường nhiều biến động, duy trì lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Bài viết của bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Giám đốc điều hành Tập đoàn Dệt May Việt Nam đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 1+2/2026. Chi tiết tại đây!