Chiều 03/3, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) tổ chức Hội thảo chuyên đề tháng 3 theo hình thức trực tuyến và trực tiếp. TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex chủ trì Hội thảo. Cùng dự có Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu; Lãnh đạo Cơ quan điều hành, các Ban chức năng và đại diện các doanh nghiệp tại các điểm cầu.


Tại Hội thảo, TS. Hoàng Mạnh Cầm – Chánh Văn phòng HĐQT đã cập nhật một số thông tin về thị trường dệt may, bức tranh toàn cảnh về thuế quan, kinh tế vĩ mô, kết quả xuất nhập khẩu dệt may, diễn biến nguyên phụ liệu, lãi suất – tỷ giá và các yếu tố địa chính trị tác động tới ngành.
Theo đó, sau phán quyết ngày 20/2/2026 của Tòa án Tối cao Mỹ chấm dứt thuế đối ứng toàn cầu theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA), từ 24/2/2026, Mỹ áp mức thuế bổ sung 10% theo Section 122 của Trade Act 1974 trong 150 ngày, áp dụng với mọi quốc gia. Như vậy, hàng dệt may xuất khẩu vào Mỹ ngoài thuế MFN hiện hành còn chịu thêm 10% thuế tạm thời, trong khi đó kịch bản tăng mức thuế bổ sung lên 15% vẫn để ngỏ. TS. Hoàng Mạnh Cầm nhận định, việc áp thuế đồng loạt phần nào rút ngắn bất lợi tương đối giữa Việt Nam và các nước đã có thỏa thuận song phương với Mỹ, song rủi ro chính sách thương mại vẫn là biến số lớn trong năm nay.
Về kinh tế vĩ mô, cập nhật dự báo tháng 1/2026 của IMF cho thấy tăng trưởng toàn cầu năm 2026 đạt khoảng 3,3%, phục hồi chậm và không đồng đều. Mỹ tăng trưởng 2,4%, EU 1,3%, Nhật Bản 0,7%, Trung Quốc 4,5%. Lạm phát tại Mỹ và châu Âu hạ nhiệt, song tiêu dùng vẫn thận trọng, đặc biệt ở nhóm hàng không thiết yếu như thời trang.
Về tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam, tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam ước đạt 3,88 tỷ USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ. Trong đó, hàng may mặc đạt 3,25 tỷ USD (tăng 1,9% so với cùng kỳ), dệt sợi đạt 624 triệu USD (tăng 26,3% so với cùng kỳ 2025). Về cơ cấu thị trường, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành. Năm 2025, Việt Nam duy trì vị trí Top 1 thị phần hàng may mặc tại Mỹ, vượt Trung Quốc và Bangladesh. Thị trường Mỹ năm 2025 nhập khẩu 104 tỷ USD dệt may, giảm 3,5% so với cùng kỳ, song cấu trúc thị phần có sự dịch chuyển mạnh khỏi Trung Quốc sang ASEAN và Nam Á. Việt Nam giữ mức thị phần quanh 22–23% trong nhiều tháng cuối năm.
Tại Liên minh Châu Âu (EU), năm 2025 khối này đã nhập khẩu 138,4 tỷ USD dệt may, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Trung Quốc giảm dần thị phần từ tháng 8/2025; Việt Nam duy trì ổn định và có xu hướng nhích nhẹ do xu hưởng dịch chuyển đơn hàng và hưởng lợi từ các Hiệp định FTAs. Với Nhật Bản và Hàn Quốc, nhu cầu còn yếu do tiêu dùng nội địa thắt chặt. Tháng 1/2026, nhập khẩu dệt may Nhật Bản giảm 6,2% so với cùng kỳ; Hàn Quốc giảm 4,3%. Tuy vậy, nhờ đồng Yên có xu hướng mạnh lên và lãi suất tại Nhật tăng nhẹ, triển vọng trung hạn có thể cải thiện.
Trong tương quan cạnh tranh, tháng 1/2026 Bangladesh xuất khẩu 3,89 tỷ USD hàng dệt may (giảm 1,3%), trong khi xuất khẩu của Trung Quốc cả năm 2025 giảm 2,3%. Diễn biến này cho thấy Việt Nam đang giữ được đà tăng tương đối tốt trong bối cảnh thị trường toàn cầu co hẹp.
Theo báo cáo tháng 2/2026 của USDA, sản lượng bông toàn cầu vụ 2025/26 đạt 26,1 triệu tấn, trong khi tiêu thụ 25,8 triệu tấn; tồn kho cuối kỳ tăng lên 16,4 triệu tấn, tương đương 63,3% tiêu thụ. Áp lực dư cung khiến giá bông khó tăng mạnh trong ngắn hạn. Tháng 2/2026, giá bông ICE phục hồi nhẹ lên khoảng 63–64 cent/lb; A Index quanh 75–76 cent/lb. Chênh lệch giá bông Trung Quốc và A Index duy trì cao nhưng có xu hướng thu hẹp. Trong khi đó, giá xơ PSF tại Trung Quốc có xu hướng tăng nhẹ (ở mức 0,97 USD/kg cuối tháng 2). Kể từ đầu năm 2026 đến nay, giá dầu đã tăng hơn 20% do căng thẳng Mỹ–Israel–Iran. Điều này tạo áp lực chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sợi và dệt.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ giữ lãi suất 3,5–3,75%, đồng USD có xu hướng suy yếu. Ngân hàng TW Châu Âu (ECB) duy trì lãi suất tiền gửi 2%, trong khi đó Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) đã nâng lãi suất lên 0,75%. Môi trường tài chính toàn cầu đang chuyển từ thắt chặt sang nới lỏng có kiểm soát. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước giữ ổn định lãi suất điều hành; tỷ giá USD/VND cuối tháng 1/2026 ở mức 26.025, giảm 0,9% so với đầu năm. USD suy yếu giúp giảm áp lực chi phí nhập khẩu nguyên liệu, song các nước cạnh tranh như Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh duy trì đồng nội tệ yếu, gia tăng sức ép về giá.
Về tình hình địa chính trị trên toàn cầu, làn sóng bất ổn đầu năm 2026, đặc biệt căng thẳng Mỹ–Israel–Iran, khiến giá dầu Brent tăng mạnh trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trung – dài hạn, dư cung và nỗ lực kiểm soát giá của Mỹ có thể hạn chế đà tăng.
Theo ông Hoàng Mạnh Cầm, năm 2026 là năm doanh nghiệp dệt may cần ưu tiên năng lực “giữ nhịp” trong bất định: linh hoạt tài chính, quản trị rủi ro tỷ giá – nguyên liệu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nâng cấp giá trị gia tăng. Trong bối cảnh thuế quan cao trở thành “bình thường mới”, lợi thế sẽ thuộc về những doanh nghiệp kiểm soát tốt chi phí, đảm bảo tuân thủ xuất xứ và giao hàng nhanh.
Cũng tại Hội thảo, Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu đã trình bày nhanh về kết quả SXKD của Vinatex ước thực hiện trong quý 1/2026, tình hình đơn hàng và một số nhận định về thị trường khi các yếu tố về chính trị gia tăng. Cùng với đó, đại diện các doanh nghiệp trong hệ thống cũng báo cáo nhanh về đơn hàng, nhận định của khách hàng, xu hướng dịch chuyển đơn hàng khi các yếu tố về thuế quan của Mỹ thay đổi.

Kết luận Hội thảo, TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Vinatex nhấn mạnh, bối cảnh thị trường năm 2026 tiếp tục tiềm ẩn nhiều biến động về thuế quan, địa chính trị và chi phí logistics, đòi hỏi toàn hệ thống phải chủ động, linh hoạt và xây dựng các chương trình hành động cụ thể với những kịch bản dự báo.
Trước hết, với thị trường EU, Chủ tịch HĐQT yêu cầu các đơn vị chuẩn bị các phương án giao hàng phù hợp trong điều kiện tuyến vận tải có thể thay đổi, chi phí logistics gia tăng và thời gian vận chuyển kéo dài. Doanh nghiệp cần tính toán lại nhu cầu sử dụng nguyên liệu, cơ cấu giá, tiến độ sản xuất, chủ động đẩy nhanh nhịp độ để bù đắp thời gian vận tải, hạn chế tối đa rủi ro giao hàng chậm và phát sinh chi phí.
Đối với thị trường Mỹ, trong bối cảnh chỉ số DXY suy giảm và áp lực giảm giá gia tăng do hàng nhập khẩu đắt đỏ, các doanh nghiệp cần lường trước xu hướng khách hàng tiếp tục yêu cầu điều chỉnh giá. Đồng thời, việc Trung Quốc duy trì đồng Nhân dân tệ ở mức thấp cũng tạo thêm áp lực cạnh tranh về giá. Trên cơ sở đó, Chủ tịch HĐQT đề nghị các đơn vị tăng cường thực hiện sớm các đơn hàng đi Mỹ, tận dụng giai đoạn thuế quan bổ sung 10% có hiệu lực trong 150 ngày để tối ưu kế hoạch giao hàng, hạn chế rủi ro khi chính sách có thể thay đổi theo hướng bất lợi hơn.
Với ngành sợi, lãnh đạo Tập đoàn lưu ý diễn biến giá dầu tăng đang kéo theo giá nguyên liệu hóa dầu, đặc biệt là xơ PE có xu hướng nhích lên, đồng thời tác động lan tỏa tới giá bông. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu sợi toàn cầu còn yếu, các đơn vị cần kiểm soát chặt tồn kho, cân đối sản xuất theo tín hiệu thị trường, tránh rủi ro biên lợi nhuận bị co hẹp.
Chủ tịch Lê Tiến Trường khẳng định, trong điều kiện “thuế cao trở thành trạng thái bình thường mới” và bất ổn địa chính trị tiếp tục kéo dài, năng lực giữ nhịp sản xuất – tài chính – thị trường sẽ quyết định sức chống chịu của doanh nghiệp. Toàn Tập đoàn cần phát huy tối đa lợi thế về tổ chức sản xuất, quản trị đơn hàng và phối hợp nhuần nhuyễn thông qua các Ban SXKD Sợi và May, từ đó giữ vững thị phần, ổn định việc làm và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026.





