- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
Quốc hội với công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, non sông thu về một mối. Ngay sau chiến thắng, một nhiệm vụ lịch sử đặt ra là thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả nước, ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung đã được tổ chức, khẳng định ý chí sắt son của toàn dân trong việc xây dựng một quốc gia thống nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa.
Quốc hội khóa VI – Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử lập hiến và lập pháp của dân tộc. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xác định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, đồng thời bầu ra các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước. Với những quyết định lịch sử đó, Quốc hội đã chính thức hóa sự thống nhất đất nước, mở ra một thời kỳ mới cả nước cùng tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp năm 1980 được thông qua, trở thành bản Hiến pháp của thời kỳ quá độ, định hình hệ thống chính trị – pháp lý trong giai đoạn đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, hàng loạt đạo luật nền tảng như Bộ luật Hình sự 1985, Luật Hôn nhân và gia đình 1986, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, được ban hành, đặt cơ sở pháp lý quan trọng cho sự vận hành của một quốc gia thống nhất.
Tuy nhiên, sau chiến tranh, nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn do những nguyên nhân khách quan và chủ quan: Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc ở hai đầu đất nước vẫn tiếp tục cùng với việc làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng; Việt Nam rơi vào thế bị bao vậy, cấm vận, cô lập, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn… Quốc hội khóa VI và VII đã tập trung thảo luận kỹ, phê chuẩn, thông qua nhiều quyết sách quan trọng về các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đồng thời giám sát chặt chẽ việc thực hiện, thẳng thắn chỉ ra những bất cập, hạn chế, yếu kém trong cơ chế quản lý kinh tế và yêu cầu điều chỉnh. Cũng từ đây, những tín hiệu đổi mới đầu tiên xuất hiện, mở ra một giai đoạn lịch sử mới của đất nước.
Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng diễn ra, khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Trên cơ sở tư tưởng “lấy dân làm gốc”, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Quốc hội đã nhanh chóng thể chế hóa đường lối đổi mới, trở thành trung tâm của quá trình xây dựng thể chế, pháp luật và chính sách phát triển. Quốc hội khóa VIII, được bầu năm 1987, đã đi vào lịch sử với việc thông qua Hiến pháp năm 1992 – bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới tạo khung khổ pháp lý cho nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Từ Quốc hội khóa IX đến khóa XIV, hoạt động lập pháp của Quốc hội diễn ra sôi động và toàn diện hơn bao giờ hết. Hàng trăm bộ luật và luật được ban hành, bao trùm trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại, khoa học công nghệ. Những bộ luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại. Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Biển Việt Nam năm 2012… lần lượt ra đời, phản ánh tư duy pháp lý mới, tạo hành lang pháp lý minh bạch và bình đẳng cho các thành phần kinh tế, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực phát triển.
Cùng với lập pháp, Quốc hội đã đổi mới mạnh mẽ hoạt động giám sát. Từ các phiên chất vấn công khai, sôi nổi, đến việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, từ giám sát chuyên đề đến các đoàn giám sát thực tế ở địa phương – tất cả đã làm cho hoạt động giám sát trở nên thực chất, hiệu quả hơn. Quốc hội không chỉ phát hiện hạn chế, yếu kém mà còn đưa ra nhiều kiến nghị xác đáng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời củng cố niềm tin của Nhân dân.
Trên phương diện quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, Quốc hội đã thông qua nhiều nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hằng năm, phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (12/1999); phê chuẩn Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ (6/2004); quyết định rút ngắn một năm nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII; quyết định chủ trương đầu tư những công trình trọng điểm quốc gia có ý nghĩa chiến lược như Nhà máy Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, đường Hồ Chí Minh, cụm Khí Điện-Đạm Bà Rịa-Vũng Tàu…
Đặc biệt, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013 – bản Hiến pháp tiếp tục thể chế hóa toàn diện đường lối đổi mới của Đảng, kế thừa và phát triển những giá trị cốt lõi của các bản Hiến pháp trước đó. Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ hơn nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời đề cao quyền con người, quyền công dân, mở rộng dân chủ, nâng cao vị thế và trách nhiệm của Quốc hội trong hệ thống chính trị.
Trong những năm 2016-2021, Quốc hội khóa XIV đã tiếp tục khẳng định bản lĩnh và năng lực thích ứng trước những biến động khó lường của tình hình quốc tế và trong nước. Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, giám sát chặt chẽ hoạt động của Chính phủ và các cơ quan nhà nước, Quốc hội còn chủ động đưa ra nhiều quyết sách kịp thời để ứng phó với đại dịch COVID-19, bảo đảm mục tiêu kép: vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì, phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.
Quốc hội khóa XIV đã thực sự thể hiện vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng hành cùng cả nước vượt qua giai đoạn đầy thử thách. Song song với đó, hoạt động đối ngoại nghị viện được mở rộng, trở thành một trụ cột trong công tác đối ngoại của đất nước. Quốc hội Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia nhiều diễn đàn nghị viện khu vực và quốc tế, đăng cai tổ chức thành công các hội nghị quốc tế lớn, qua đó nâng cao vai trò, vị thế của Quốc hội Việt Nam, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện của đất nước.
Với những thành tựu đạt được, Quốc hội Việt Nam không chỉ hoàn thành xuất sắc trọng trách lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, mà còn góp phần khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những dấu ấn ấy sẽ mãi là nền tảng vững chắc để đất nước tiếp tục bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Nguồn: Báo Tin tức và Dân tộc
Kết luận 03-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp
Ngày 15/3/2026, cử tri cả nước sẽ tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa sâu sắc trong việc lựa chọn những đại biểu xứng đáng tham gia Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời lựa chọn các đại biểu HĐND đủ đức, đủ tài, có bản lĩnh chính trị, năng lực và tinh thần trách nhiệm, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Ngày 23/2/2026, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 03-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Kết luận nêu: Để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, trong đó đặc biệt lưu ý một số nội dung sau đây:
- Lãnh đạo, chỉ đạo thật tốt công tác chuẩn bị nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ gắn với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; bảo đảm cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc; bảo đảm tỉ lệ người ứng cử là phụ nữ và người dân tộc thiểu số theo đúng quy định; có tỉ lệ hợp lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu tái cử, đại biểu trẻ tuổi, các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân và các hiệp hội, nghiệp đoàn trong sản xuất, kinh doanh.
- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, trong đó cần quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc bảo đảm chất lượng đại biểu và tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách (dự kiến có 145 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Trung ương và 55 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại địa phương). Quan tâm, hỗ trợ tối đa cho các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu về ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương (trong số 217 người ứng cử đại biểu Quốc hội do các cơ quan Trung ương giới thiệu, có nhiều ứng cử viên trẻ từ các cơ quan của Quốc hội, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở Trung ương được giới thiệu lần đầu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội) để các ứng cử viên xây dựng chương trình hành động thực chất, bám sát cơ sở, cung cấp thông tin, tài liệu về tình hình kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, đặc điểm dân cư nơi ứng cử; đáp ứng tốt nhất nguyện vọng của cử tri, thực hiện tốt các cuộc tiếp xúc cử tri trong vận động tranh cử; có các hình thức phù hợp tuyên truyền về tiểu sử để cử tri nắm bắt được thông tin tiểu sử và quá trình công tác, trình độ, năng lực của các ứng cử viên; nghiên cứu, sắp xếp, phân bổ các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu về các đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu có sự hài hoà, hợp lý, phát huy được ưu điểm, lợi thế của mỗi ứng cử viên, tạo được niềm tin, sự ủng hộ và tín nhiệm cao của cử tri nơi ứng cử.
- Làm tốt công tác bảo đảm an ninh, trật tự; công tác thông tin, tuyên truyền về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo; khi có yêu cầu của Hội đồng Bầu cử quốc gia phải kịp thời báo cáo, cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, đúng tiến độ, không để chậm trễ, thiếu sót, bảo đảm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành chung và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Nguồn: TTXVN
Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thay mặt Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận số 236-KL/TW ngày 15/1/2026 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết luận số 236-KL/TW nêu rõ:
Qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Chỉ thị số 49-CT/TW), công tác dân vận đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội được nâng lên; công tác dân vận gắn với nhiệm vụ chính trị, hướng về cơ sở, kịp thời tổ chức đối thoại, nắm bắt tâm tư, giải quyết nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số; nội dung, phương thức công tác dân vận được đổi mới đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; đội ngũ người có uy tín, già làng, trưởng thôn, bản, chức sắc, chức việc tôn giáo được phát huy, góp phần bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được còn một số tồn tại, hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền chưa được quan tâm đúng mức, có biểu hiện xem nhẹ, nặng về hành chính, chưa thể hiện đầy đủ phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với Nhân dân”; việc quán triệt, thể chế hóa và tổ chức thực hiện ở một số nơi chưa đồng bộ.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở có nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao; công tác tuyên truyền vận động, phát huy giá trị tín ngưỡng truyền thống, vai trò của nghệ nhân dân gian, xóa bỏ hủ tục lạc hậu còn bất cập. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác dân vận chưa đáp ứng yêu cầu. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để thực hiện tốt chủ trương tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
- Quan điểm, mục tiêu
1.1. Công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng, chiến lược, lâu dài, đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên của hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong đồng bào dân tộc thiểu số.
1.2. Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, hiệu quả, hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân; gắn công tác dân vận với định hướng, kiến tạo, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
1.3. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước; chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
2.1. Tăng cường, đổi mới, nâng cao trách nhiệm công tác lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện từng vùng, từng dân tộc. Công tác dân vận phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch và khẳng định rõ: “quyền tự quyết” là quyền làm chủ, quyền phát triển bình đẳng, quyền giữ gìn bản sắc dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không phải quyền ly khai hay đối lập chính trị; kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây phức tạp về an ninh, trật tự chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2.2. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền, thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo, nhất là trong tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ổn định đời sống, tạo việc làm bền vững; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đẩy mạnh cải cách hành chính trong hoạt động của chính quyền các cấp; tăng cường đối thoại, kịp thời giải quyết kiến nghị chính đáng của Nhân dân. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật; nắm chắc tình hình ở cơ sở, xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp về an ninh trật tự.
2.3. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội các cấp, phát huy vai trò người có uy tín, già làng, trưởng thôn, bản, nghệ nhân dân gian, chức sắc, chức việc tôn giáo, đội ngũ nhà giáo, trí thức, lực lượng vũ trang trong vận động đồng bào dân tộc thiểu số, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Chủ động rà soát, lựa chọn, bồi dưỡng và nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay trong công tác dân vận, gắn bảo tồn văn hóa, tín ngưỡng truyền thống với xây dựng hương ước, quy ước, nếp sống văn minh, kịp thời biểu dương, khen thưởng đúng người, đúng việc, đúng thành tích đối với tập thể, cá nhân tiêu biểu tạo sự lan tỏa trong cộng đồng các dân tộc. Vận động các tổ chức, cá nhân người uy tín, nghệ nhân dân gian tiêu biểu tham gia thành viên của Mặt trận Tổ quốc nhằm phát huy vai trò tập hợp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2.4. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ cơ sở có trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm, am hiểu văn hóa, phong tục tập quán, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài trong công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và có chính sách phù hợp đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số, gắn với nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở cơ sở; đề cao trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2.5. Tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số bảo tồn và phát huy văn hóa, tín ngưỡng truyền thống, thực hiện nếp sống văn minh, tiến bộ. Quan tâm xây dựng, bồi dưỡng, phát huy đội ngũ nghệ nhân dân gian, người am hiểu phong tục văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số làm hạt nhân để gìn giữ và truyền dạy cho các thế hệ nhằm lưu giữ các giá trị tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số; gắn bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
2.6. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác dân vận, phát triển hạ tầng thông tin, nền tảng số phục vụ tuyên truyền, nhất là trên không gian mạng, mở rộng truyền thông bằng tiếng dân tộc, nâng cao kỹ năng số để tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ trong sản xuất kinh doanh, phát triển các dịch vụ; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp về dân cư, văn hóa, tín ngưỡng, lao động, việc làm bền vững trong cộng đồng các dân tộc.
Nguồn: Báo Nhân dân
Ban Bí thư quy định mới về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên
Thay mặt Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quy định số 06 về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên.
Theo quy định, quản lý thẻ đảng viên là các hoạt động cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên; sản xuất, in, hủy thẻ đảng viên; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy các cấp.
Thẻ đảng viên được dùng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định.
Việc quản lý và sử dụng thẻ đảng viên bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; nghiêm cấm việc làm giả thẻ đảng viên.
Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên, sử dụng đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự hủy thẻ đảng viên.
Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.
Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ.
Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với quy định.
Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với quy định phải kịp thời báo cáo cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Cũng theo Quy định, chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất.
Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng kết quả kiểm tra.
Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp ủy cấp trên trực tiếp; thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng.
Ban Bí thư yêu cầu thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
Quy định cũng nêu rõ các trường hợp xử lý vi phạm gồm: đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự hủy thẻ đảng viên bị xóa tên đảng viên theo quy định; đảng viên sử dụng thẻ đảng viên sai quy định; làm mất thẻ đảng viên không có lý do chính đáng; để người khác sử dụng thẻ đảng viên thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng.
Tổ chức đảng, đảng viên phát hiện những hành vi trái với quy định này mà không kịp thời tố giác hoặc bao che thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên thì tuỳ mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
Đảng ủy Vinatex tổ chức Hội nghị trực tuyến kết nối với Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng 25/02, Đảng ủy Vinatex tổ chức Hội nghị trực tuyến kết nối với Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị tại điểm cầu trụ sở tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nam Định.
Mục tiêu trọng tâm của hội nghị là làm rõ những nội dung cốt lõi, điểm mới và định hướng đột phá trong hai nghị quyết, qua đó giúp cấp ủy các cấp xây dựng chương trình hành động cụ thể, thống nhất trong triển khai thực hiện.
Tại hội nghị, các đại biểu được nghe: đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày chuyên đề nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, truyền đạt chuyên đề Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình trình bày chương trình hành động triển khai hai nghị quyết.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, bên cạnh những Nghị quyết đã ban hành trước đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng. Đó là tăng cường nội lực vật chất và củng cố nội lực tinh thần, khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, hiệu quả, gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng gắn với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi thêm một số nội dung liên quan tới Nghị quyết số 79-NQ/TW. Tổng Bí thư nhấn mạnh, kinh tế nhà nước phải thực sự chiếm lĩnh, cao điểm, chiến lược chỉ huy của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo, trở thành điểm tựa quốc gia trong kỷ nguyên mới. Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả, bằng đóng góp thực chất, cho ổn định vĩ mô, an ninh kinh tế và cho phát triển trung và dài hạn. Đấy là nhiệm vụ rất quan trọng của kinh tế nhà nước.
“Lĩnh vực nào nhà nước tự nắm giữ để đảm bảo chủ quyền và ổn định thì phải nắm cho chắc, làm cho tinh, cho mạnh. Lĩnh vực nào nhà nước chỉ nên giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng, mở đường thì phải thiết kế một cơ chế để khu vực tư nhân cùng tham gia, cùng cạnh tranh, cùng phát triển. Lĩnh vực nào nhà nước không cần thiết làm hoặc làm không hiệu quả thì kiên quyết sắp xếp lại theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chống lợi ích nhóm, chống sân sau, chống thao túng, chống trục lợi chính sách” – Tổng Bí thư nói.
Tổng Bí thư cho rằng, kinh tế nhà nước phải có những đóng góp mang tính đột phá vào năng lực tự chủ quốc gia, đảm bảo duy trì ổn định và can thiệp kịp thời khi xuất hiện những rủi ro mang tính hệ thống. Vì vậy, trong giai đoạn mới, kinh tế nhà nước phải thực sự được cụ thể hóa thành điểm tựa lớn.
Tổng Bí thư yêu cầu ngay sau hội nghị, các cấp ủy, tổ chức Đảng, các bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương cụ thể hóa nghị quyết thành kế hoạch thực hiện cụ thể sát với thực tiễn; phải xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong đó người đứng đầu phải quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đặc biệt, phải thực hiện từ những ngày đầu, tháng đầu của năm mới với tinh thần “Đoàn kết, kỷ cương, khát vọng, phát triển”…
- TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH VINATEX
Lãnh đạo Vinatex dâng hương Tổ nghề và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 22/2, trong không khí đầu xuân mới Bính Ngọ 2026, đoàn công tác của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) do TS. Lê Tiến Trường – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Vinatex và ông Cao Hữu Hiếu – Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Vinatex dẫn đầu đã tới dâng hương Tổ nghề và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nhà truyền thống ngành Dệt May Việt Nam (phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình.
Lãnh đạo Tập đoàn đã báo cáo trước anh linh Tổ nghề và Chủ tịch Hồ Chí Minh những kết quả nổi bật trong năm 2025 – năm ghi nhận lợi nhuận cao nhất của Vinatex với 1.479 tỷ đồng, vượt qua mốc năm 2021 trong lịch sử. Trong bối cảnh thị trường dệt may thế giới còn nhiều biến động, Vinatex đã nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp về thị trường, quản trị, tiết giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động tổng hợp. Nhờ đó, các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh hoàn thành và vượt kế hoạch, doanh thu và lợi nhuận được cải thiện, đời sống, thu nhập của người lao động tiếp tục được đảm bảo và từng bước nâng cao, trung bình đạt 11,7 triệu đồng/người/tháng.
Bước sang năm 2026, toàn hệ thống xác định tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng, tăng cường chuyển đổi số, phát triển sản phẩm theo hướng xanh và bền vững, chủ động thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường quốc tế với mục tiêu “tăng năng suất tổng hợp trên toàn hệ thống” nhằm xây dựng bản lề cho giai đoạn 2026 – 2030 tập trung vào phát triển chiều sâu trên cơ sở quy mô của hệ thống đang có.
Trong sổ lưu bút tại Nhà truyền thống ngành Dệt May Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Lê Tiến Trường bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với các thế hệ cán bộ, công nhân ngành Dệt May qua các thời kỳ; khẳng định quyết tâm của tập thể lãnh đạo và hơn 60.000 người lao động toàn Tập đoàn trong việc giữ vững truyền thống đoàn kết, sáng tạo, kỷ luật, nỗ lực hoàn thành các mục tiêu năm 2026, góp phần xây dựng ngành Dệt May Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao vị thế trên thị trường khu vực và thế giới, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới của đất nước.
Lễ dâng hương đầu xuân là hoạt động thường niên mang ý nghĩa chính trị, tinh thần sâu sắc, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, văn hóa “đoàn kết – sẻ chia của các thế hệ người dệt may – ngành công nghiệp đầu tiên của cả nước. Đồng thời, đây cũng là hoạt động nhằm lan tỏa văn hóa Vinatex, tạo khí thế thi đua sôi nổi ngay từ những ngày đầu năm mới trong toàn hệ thống.
Tập đoàn Dệt May Việt Nam triển khai chuỗi hoạt động đầu Xuân Bính Ngọ 2026, quyết tâm tái cơ cấu và phát triển bền vững
Nhân dịp năm mới 2026, lãnh đạo Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) đã tham gia chuỗi hoạt động đầu Xuân Bính Ngọ ý nghĩa trên phạm vi cả nước, bao gồm: dâng hương Tổ nghề và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở máy, khai xuân tại nhiều đơn vị sản xuất, thăm hỏi – chúc Tết các doanh nghiệp thành viên tại 3 miền Bắc – Trung – Nam. Chuỗi hoạt động diễn ra từ ngày 21 đến 24/2/2026 không chỉ mang tinh thần phấn khởi đầu năm mà còn thể hiện rõ quyết tâm của Vinatex trong việc định vị chiến lược, tái cơ cấu và hướng tới phát triển bền vững giai đoạn 2026–2030.
Mở máy, khai Xuân Bính Ngọ: Tạo khí thế thi đua ngay từ đầu năm
Sáng ngày 21/2 tức mồng 5 Tết Bính Ngọ, TS. Lê Tiến Trường – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam cùng đoàn công tác đã tới mở máy, khai xuân và chúc Tết CBNV – NLĐ tại Công ty TNHH MTV Dệt 8-3 và Chi nhánh Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Trung tâm Phát triển Sản phẩm và Kinh doanh Vinatex (Vinatex PD&B) để thực hiện nghi thức mở máy, khai xuân. Cùng ngày, Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu cũng đã mở máy, khởi động sản xuất, thăm chúc Tết và động viên CBNV-NLĐ tại Tổng Công ty CP Dệt May Hà Nội (Hanosimex) – Chi nhánh Ninh Bình. Tại khu vực miền Trung, Công ty CP Dệt May Huế đã chính thức tổ chức lễ Khai xuân mở máy, với hơn 92% người lao động trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết. Hòa chung không khí, ngành Sợi của Tổng Công ty CP Dệt May Hòa Thọ đã chính thức ra quân sản xuất, đồng loạt khởi động lại toàn bộ dây chuyền với tinh thần khẩn trương, quyết tâm và đầy khí thế. Trước đó, chiều 20/02/2026 (tức mùng 4 Tết Âm lịch), Chi nhánh Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Nhà máy Sợi Vinatex Nam Định cũng đã tổ chức mở máy khai xuân. Đây là hoạt động truyền thống mang ý nghĩa khởi đầu thuận lợi cho một năm sản xuất mới, đồng thời thể hiện quyết tâm duy trì nhịp độ sản xuất, kinh doanh ngay từ những ngày đầu năm.
Tại chương trình, lãnh đạo Tập đoàn đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị: cần nhanh chóng ổn định sản xuất sau Tết, đảm bảo tiến độ đơn hàng, tăng cường kỷ luật quản trị và chủ động nắm bắt cơ hội thị trường. Giai đoạn 2026–2030, Vinatex xác định rõ các trụ cột phát triển gồm tái cơ cấu chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm thân thiện môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Nguồn: Lãnh đạo Vinatex mở máy, khai Xuân Bính Ngọ – Vinatex
Doanh nghiệp miền Bắc: Củng cố nội lực, nâng cao quản trị
Trong hai ngày 22 – 23/2, ban Lãnh đạo Vinatex đã thăm, chúc Tết và làm việc với nhiều doanh nghiệp thành viên tại khu vực miền Bắc. Các điểm đến gồm Dệt kim Đông Xuân, Tổng Công ty May Hưng Yên, Tổng Công ty CP Dệt May Nam, Chi nhánh Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Nhà máy Sợi Vinatex Nam Định, Tổng Công ty CP Dệt May Hà Nội, Tổng Công ty May 10, Công ty CP Phát triển Hạ tầng Dệt May Phố Nối, Trung tâm Thời trang Vinatex, Tổng Công ty Đức Giang, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội,Trung tâm Y tế – Bệnh viện Dệt May và Công ty CP Dệt Công nghiệp Hà Nội
Tại các đơn vị, lãnh đạo Tập đoàn đã thăm hỏi tình hình sản xuất đầu năm, động viên cán bộ, người lao động và ghi nhận những nỗ lực vượt khó của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường dệt may thế giới còn nhiều biến động. Đồng thời, lãnh đạo Vinatex yêu cầu các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát chi phí, cải thiện năng suất lao động và chú trọng nâng cao thu nhập, đời sống cho người lao động.
Thông điệp xuyên suốt được lãnh đạo Tập đoàn nhấn mạnh là chuyển từ tư duy “củng cố để tồn tại” sang “chiến lược để phát triển”, trong đó hiệu quả, chất lượng và giá trị gia tăng phải trở thành mục tiêu trọng tâm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nguồn: Lãnh đạo Vinatex thăm, chúc Tết các doanh nghiệp miền Bắc – Vinatex
Doanh nghiệp miền Trung: Định vị chiến lược, “đừng sợ” để bứt phá
Trong 2 ngày 23 và 24/2/2026, đoàn công tác của Tập đoàn tiếp tục thăm, chúc Tết và định hướng chiến lược cho các doanh nghiệp thành viên tại khu vực miền Trung, tập trung tại Huế và Đà Nẵng. Tại các buổi làm việc, Chủ tịch HĐQT Lê Tiến Trường khẳng định miền Trung đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển tổng thể của Vinatex, được xác định là “cực tăng trưởng mới” nhờ lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng logistics và nguồn nhân lực.
Lãnh đạo Tập đoàn định hướng các doanh nghiệp miền Trung cần tập trung vào chiều sâu, thay vì mở rộng quy mô đơn thuần; chú trọng đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản trị. Giai đoạn 2026–2027, Vinatex sẽ thúc đẩy hình thành các liên minh sản xuất – cung ứng quy mô lớn, trong đó, một trong những mục tiêu chiến lược lớn của Vinatex là trở thành đối tác chiến lược của Hiệp hội Bông Mỹ nhằm nâng cao năng lực đàm phán, đáp ứng yêu cầu về xuất xứ và phát triển bền vững của các thị trường xuất khẩu chủ lực.
Chủ tịch Vinatex bày tỏ mong muốn các doanh nghiệp khu vực Huế tiếp tục giữ vai trò hạt nhân đổi mới, lan tỏa tinh thần hợp tác và nâng cao năng lực quản trị. “Thành công không chỉ là lợi nhuận cao hơn, mà là thành công thông minh hơn và bền vững hơn” – Chủ tịch Lê Tiến Trường nhấn mạnh.
Tại Hòa Thọ, để truyền tải tinh thần đổi mới, Chủ tịch HĐQT Vinatex dẫn một chi tiết trong Kinh Thánh: trong 1.189 chương của cả Cựu Ước và Tân Ước, cụm từ “đừng sợ” xuất hiện 365 lần – như một lời nhắn gửi cho mỗi ngày trong năm. “Mỗi ngày một lần đừng sợ. Đừng sợ nghĩ mới – Đừng sợ làm sáng tạo – Đừng sợ rời khỏi vùng an toàn và đừng sợ sai” – ông nhấn mạnh.
Theo ông, điều khó nhất không phải là thay đổi công nghệ, mà là thay đổi tư duy lãnh đạo. Nếu lãnh đạo còn sợ mất an toàn, sợ rủi ro, sợ thử nghiệm, doanh nghiệp sẽ không thể bứt phá. Cùng với đó, trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp không chỉ là đảm bảo kết quả ngắn hạn, mà còn phải lo cho tương lai lâu dài của đơn vị. “Chúng ta không thể ngồi đây và tin rằng mô hình cũ sẽ đi đến cuối chặng đường. Con đường duy nhất là thay đổi”, ông nhận định.
Nguồn: Lãnh đạo Vinatex định vị chiến lược cho các doanh nghiệp miền Trung – Vinatex
Doanh nghiệp phía Nam: Thử nghiệm mô hình mới, tạo động lực tăng trưởng bền vững
Trong không khí đầu Xuân Bính Ngọ 2026, từ ngày 25–26/2, đoàn công tác của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) do Chủ tịch HĐQT Lê Tiến Trường và Tổng Giám đốc Cao Hữu Hiếu dẫn đầu đã đến thăm, chúc Tết và làm việc với các doanh nghiệp thành viên tại khu vực phía Nam.
Tại Văn phòng Tập đoàn ở TP. Hồ Chí Minh, lãnh đạo Vinatex nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình quản trị, tinh gọn bộ máy hướng tới mô hình Văn phòng tinh gọn – hiệu năng – hiệu quả nhằm đáp ứng áp lực tăng trưởng và bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Việc đẩy mạnh số hóa quản trị, liên kết các đơn vị theo nhóm ngành được xác định là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành trong giai đoạn mới.
Làm việc với Công ty TNHH Tổng Công ty Dệt May Miền Nam – Vinatex (VSC), Chủ tịch Tập đoàn ghi nhận kết quả tái cấu trúc bộ máy, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất trong năm 2025. VSC hiện đã có đơn hàng đến hết tháng 7/2026 và được kỳ vọng tiếp tục mở rộng quy mô, gắn hoạt động nghiên cứu – phát triển với sản xuất. Năm 2026, VSC cần gắn chặt hoạt động nghiên cứu phát triển với hoạt động sản xuất, tiếp tục linh hoạt trong điều hành nhằm chớp lấy thời cơ, tăng tốc sản xuất, tích lũy lợi nhuận, phấn đấu đạt được mục tiêu lợi nhuận 3 con số, trở thành đơn vị có hiệu quả trọng yếu trong hệ thống các đơn vị thành viên của Vinatex.
Bên cạnh đó, tại Tổng Công ty May Nhà Bè – CTCP (NBC), định hướng ứng dụng AI và robot trong sản xuất được đánh giá là bước đi tiên phong. Chủ tịch Lê Tiến Trường kỳ vọng mô hình thử nghiệm thành công tại NBC sẽ được nhân rộng trong toàn hệ thống, từng bước hình thành năng lực làm chủ công nghệ tự động hóa cho ngành may.
Đối với Tổng Công ty CP Phong Phú và Tổng Công ty Việt Thắng – CTCP, lãnh đạo Tập đoàn đề nghị tiếp tục tái cấu trúc, khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, mạnh dạn thử nghiệm các mô hình kinh doanh và sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao. Trong khi đó, tại Tổng Công ty CP May Việt Tiến, Chủ tịch HĐQT Vinatex Lê Tiến Trường ghi nhận vai trò trụ cột của doanh nghiệp và định hướng tiếp tục chuyển dịch sang mô hình sản xuất tự động hóa, phát triển FOB, ODM và xây dựng năng lực thương hiệu.
Chuỗi hoạt động đầu Xuân tại phía Nam thể hiện quyết tâm của Vinatex trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng phát triển bền vững cho toàn hệ thống trong giai đoạn 2026–2030.
Nguồn: Nhân rộng và thử nghiệm các mô hình sản xuất kinh doanh mới tại khu vực phía Nam – Vinatex
Nhiệm vụ trọng tâm tháng 3 năm 2026
- Kỷ niệm 96 năm Ngày Truyền thống ngành Dệt May Việt Nam (25/3/1930-25/4/2026)
- Học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng
- Đẩy mạnh tuyên truyền cao điểm về Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
- Chỉ đạo công tác tổ chức Đại hội đồng cổ đông năm 2026
- Rà soát, hoàn thành kế hoạch KPIs quý 1 năm 2026
III. VĂN BẢN, CHÍNH SÁCH MỚI
– Quyết định số 07-QĐ/TW, ngày 25/02/2026 của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.
– Nghị quyết số 29/NQ-CP, ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
– Nghị quyết số 30/NQ-CP, ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
– Kết luận số 03-KL/TW, ngày 23/02/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
– Kết luận số 236-KL/TW ngày 15/1/2026 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
– Hướng dẫn số 03-HD/ĐU, ngày 13/02/2026 của Đảng ủy Chính phủ về việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả Bản tin sinh hoạt chi bộ.
– Kế hoạch số 12-KH/BTGDVTW, ngày 13/02/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về tổ chức cuộc thi trực tuyến tìm hiểu bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
– Quy định số 06-QĐ/TW, ngày 09/02/2026 của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên.
– Quy định số 01-QĐ/TW, ngày 03/02/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về Chế độ đảng phí.
– Chương trình số 02-CTr/BCĐTW, ngày 02/02/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về chương trình công tác năm 2026.
– Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
– Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY VINATEX





